Thứ Ba, 25/06/2024, 16:05
32.3 C
Ho Chi Minh City

Xuất khẩu cá tra: có thị trường lại thiếu nguyên liệu

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Xuất khẩu cá tra: có thị trường lại thiếu nguyên liệu

Trong ảnh là cảnh công nhân cho cá tra ăn tại một ao nuôi cá tra liên kết giữa Công ty cổ phần Nam Việt ở An Giang và nông dân – Ảnh: Hồng Văn

(TBKTSG Online) – Thị trường cá tra vào Mỹ  mở rộng thêm cho một số doanh nghiệp Việt Nam, thị trường Nga – vốn được đánh giá nhiều tiềm năng, cũng vừa khai thông trở lại. Nhưng những niềm vui này không khỏa lấp một thực tế đáng buồn là thiếu nguyên liệu cá trầm trọng.

“Treo ao, cho thuê ao”  

Ông Nguyễn Văn Hào, một nông dân ở xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, Tiền Giang năm ngoái thả nuôi 3 héc ta cá tra nhưng gặp lúc thừa cá, giá giảm nên ông bị lỗ nặng. Đến nay còn nợ ngân hàng nên năm nay ông Hào không dám thả nuôi vì giá thức ăn vẫn còn cao trong khi đầu ra không chắc gì đảm bảo có lời. Thay vì “treo ao” như một số nông dân nuôi cá khác, ông Hào chuyển sang cho thuê ao với phương thức người thuê đầu tư con giống, thức ăn, thuốc trị bệnh cho cá, còn người nuôi là ông thì chịu trách nhiệm về kỹ thuật chăm sóc.

Khi thu hoạch, người nuôi được hưởng 500 đồng/kg cá tra nguyên liệu. Theo ông Hào, cách làm ăn này tạm thời an toàn cho người nuôi đang sở hữu ao cá như ông, cụ thể ông Hào cho thuê gần một héc ta ao nuôi, vụ này ước sản lượng 280 tấn cá tra nguyên liệu, ông cầm chắc hơn 100 triệu đồng/vụ sau khi trừ chi phí thuê lao động phụ chăm sóc.

Nhưng không phải ai cũng như ông Hào. Nghề nuôi cá tra trên địa bàn Tiền Giang vài năm trở lại đây phát triển khá nhanh, chủ yếu là tận dụng diện tích nuôi ở các cồn, cù lao ven sông Tiền. Ðầu năm 2008, diện tích đạt gần 195 héc ta, sản lượng hơn 40.000 tấn. Tuy nhiên, vào cuối năm ngoái, giá cá tra biến động theo chiều hướng bất lợi cho người nuôi, đồng thời chi phí nuôi, lãi suất ngân hàng cao làm nhiều hộ nuôi bị lỗ, phá sản.

Theo kế hoạch năm nay, Tiền Giang sẽ nuôi 180 héc ta cá tra, nhưng đến thời điểm này, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, số diện tích thả nuôi chỉ gần 120 héc ta, chủ yếu ở hai huyện Cái Bè và Cai Lậy. Diện tích nông dân “treo ao” hơn 34 héc ta, bằng 30% tổng diện tích thả nuôi. Sở này cho biết mục tiêu 180 héc ta năm nay khó có thể thực hiện được mà nguyên nhân chính vẫn là nông dân thiếu vốn đầu tư và không yên tâm ở đầu ra của con cá tra.

Qua khảo sát của ngành nông nghiệp Tiền Giang thì ngoài 30% diện tích ao bỏ trống, trong số diện tích thả nuôi hiện nay, chỉ một số ít hộ nông dân ký được hợp đồng với doanh nghiệp mới dám đổ vốn vào nuôi, còn lại đa phần là nông dân cho thuê ao với giá từ 50 – 100 triệu đồng/héc ta, hoặc hợp tác với đối tác thuê ao và làm thuê trên chính ao nuôi của mình để hưởng tỷ lệ theo thỏa thuận.

Hiệp hội thủy sản một số tỉnh ĐBSCL cho biết từ đầu năm 2009, có khoảng 40% diện tích ao nuôi trong 6.000 héc ta ao cá tra tại vùng đã bị “treo”. Năm 2008 toàn vùng có khoảng 25% số hộ nuôi cá tra bị phá sản, 30% số hộ nuôi bị mất vốn tự có, 40% số hộ không trả nổi nợ ngân hàng mà ai cũng biết lý do là người nuôi bị thua lỗ nặng bởi thừa cá, giá giảm.

Lại thiếu cá nguyên liệu

Năm ngoái sản lượng cá tra nguyên liệu đưa vào chế biến đạt 1,65 triệu tấn cho ra 657.000 tấn sản phẩm xuất khẩu thu về 1,48 tỉ đô la Mỹ. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam dự báo năm nay xuất khẩu cá tra chỉ còn khoảng 1 tỉ đô la Mỹ.

Ông Ngô Phước Hậu, Chủ tịch Ủy ban cá nước ngọt (VFFC) dự báo nguy cơ thiếu nguyên liệu cá tra trong 6 tháng đầu năm nay rất cao khi có gần 50% diện tích ao nuôi chưa thả nuôi. Thiếu cá là lý do đẩy các nhà máy chế biến cá tra thừa công suất trầm trọng.

Theo ước tính của ông Hậu, có khả năng có tới 100 nhà máy thừa công suất, trong khi công suất chế biến của các nhà máy ở vùng này hiện đạt 1,5 triệu tấn sản phẩm mỗi năm thì nửa đầu năm nay chỉ dùng có 1/3.

Hiện tại, theo thống kê của ngành nông nghiệp một số tỉnh, nhiều nhà máy tại Cần Thơ chỉ hoạt động 50-70% công suất thiết kế. An Giang, địa phương nuôi cá tra lớn của Việt Nam thì hầu hết các nhà máy hoạt động cầm chừng, do thiếu nguyên liệu và phải cho công nhân nghỉ làm việc không thời hạn vì không có việc làm. Tỉnh này chiếm khoảng 35% sản lượng cá nuôi toàn vùng ĐBSCL nhưng có 60% số ao bị “treo” trong vụ nuôi mới. Một cán bộ ở Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang cho rằng tình trạng thiếu cá nguyên liệu kéo dài ít nhất đến hết tháng 6 năm nay.

Công nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu mỗi năm mang lại cho Việt Nam gần 1,5 tỉ đô la Mỹ nhưng nội tại của quy trình từ ao nuôi tới nhà máy hết khủng hoảng thừa như năm ngoái tới khủng hoảng thiếu hiện nay, dù tín hiệu thị trường khả quan so với nhiều ngành hàng khác. Điệp khúc này này cứ lặp đi lặp lại nhiều năm nay, mấu chốt của vấn đề là mối liên kết giữa người nuôi, vùng nuôi, sản lượng nuôi với doanh nghiệp chế biến, năng lực chế biến chưa chặt chẽ.

Manh nha liên kết

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 3 ước đạt 300 triệu đô la Mỹ, đưa kim ngạch xuất khẩu thủy sản quý 1 ước đạt 744 triệu đô la Mỹ, giảm 7% so với cùng kỳ năm 2008. 

Không phải bây giờ mà từ năm 2005, một số mô hình liên kết giữa người nuôi và nhà máy chế biến đã hình thành theo hướng hai bên cùng có lợi, nông dân có đầu ra tiêu thụ cá, nhà máy có nguồn nguyên liệu ổn định. Thực tế đã có nhưng điều đáng buồn là vẫn còn quá ít mô hình và nó chỉ xuất hiện ở các doanh nghiệp lớn như Công ty cổ phần Nam Việt, Công ty Agifish ở An Giang, Vĩnh Hoàn ở Đồng Tháp, Hùng Vương ở Tiền Giang.

Mô hình liên kết của Hợp tác xã Thới An ở Cần Thơ với Công ty cổ phần Hùng Vương theo nguyên tắc nông dân lo con giống và nuôi cá, doanh nghiệp cung cấp thức ăn cho cá tận ao nuôi và thường xuyên kiểm tra kỹ thuật. Khi thu hoạch nông dân được hưởng 2.500 đồng/kg, dù ngay trong vụ khó khăn nhưng kết quả hợp tác vẫn mang về cho hợp tác xã lợi nhuận ổn định 1,5 tỉ đồng/1.000 tấn cá.

Tại An Giang, từ năm 2005, Công ty Agifish chủ động thành lập liên hợp sản xuất cá sạch APPU, các hộ nuôi cam kết cung cấp cho công ty cá “sạch” thông qua hợp đồng, có 32 trại nuôi có quy mô lớn tham gia, đáp ứng 70% sản lượng cá nguyên liệu chế biến xuất khẩu.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lương lê Phương, người phụ trách xuất khẩu thủy sản, trong hội thảo xuất cá tra sang Nga cuối tháng 3 qua đã khen ngợi mô hình liên kết giữa người nuôi và nhà máy ở các công ty nói trên. Tuy nhiên, ông cũng nhìn nhận là còn quá ít, trong khi nhu cầu đòi hỏi cấp bách phải nhiều hơn nữa.

Một doanh nghiệp chế biến cá tra quy mô nhỏ không muốn nêu tên, cho rằng sở dĩ các doanh nghiệp nói trên thực hiện được mô hình liên kết vì đó là những doanh nghiệp lớn, “mạnh vì gạo bạo vì tiền”. Các doanh nghiệp này cần nguồn cung cá lớn, lại có nhân lực đảm trách con giống, thức ăn, kỹ thuật nuôi mà không phải doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ nào cũng có được. Chẳng hạn Hùng Vương hay Vĩnh Hoàn hiện đều đã có nhà máy chế biến thức ăn thủy sản.

Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn cũng có nhu cầu cấp bách phải liên kết với nông dân là do một số thị trường xuất khẩu, như Nga chẳng hạn, nhà xuất khẩu phải chứng minh mình tự cung ứng đủ ít nhất 30% nguyên liệu cho chế biến thì mới được đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường này.

HỒNG VĂN

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới