Thứ Hai, 24/06/2024, 03:32
27.3 C
Ho Chi Minh City

Xu hướng kinh doanh lúa, gạo sau Nghị định 109

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Xu hướng kinh doanh lúa, gạo sau Nghị định 109

Phạm Quang Diệu

Nông dân phơi lúa ở Miền Tây. Ảnh: Duy Khương.

(TBKTSG) – Nghị định số 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo, có hiệu lực từ ngày 1-1-2011, có thể được coi là một trong những chính sách điều tiết kinh doanh xuất khẩu gạo toàn diện nhất của Việt Nam kể từ cuối thập kỷ 1990 khi cho phép doanh nghiệp tư nhân tham gia xuất khẩu gạo. Các yêu cầu cao của nghị định này sẽ dẫn đến xu hướng sàng lọc chỉ còn lại các doanh nghiệp lớn và đó cũng sẽ là một rào cản đối với các doanh nghiệp mới muốn kinh doanh lúa gạo.

Ai sẽ lấp đầy chỗ trống?

Hiện có nhiều doanh nghiệp thương mại có trụ sở ở TPHCM, thực hiện xuất khẩu gạo song không có kho bãi hay nhà máy chế biến. Đây chính là chủ thể chính sẽ chịu ảnh hưởng mạnh nhất của Nghị định 109; trong đó quy định các doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải có kho bãi với sức chứa 5.000 tấn và công suất xay xát trên 10 tấn thóc/giờ.

Các doanh nghiệp kinh doanh thương mại có nhiều kinh nghiệm thương mại quốc tế, năng động, đã có những mối hàng lâu năm, là cầu nối giữa các doanh nghiệp xay xát lau bóng ở miền Tây với thị trường quốc tế. Lâu nay, các doanh nghiệp này có “tiếng xấu” gây ra sự nhiễu loạn ở cả thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa.

Đối với thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp thương mại nỗ lực tìm kiếm các hợp đồng xuất khẩu và chấp nhận mức giá cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh thị trường trầm lắng, tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp nước ngoài có cơ hội ép giá đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Đối với thị trường nội địa, khi ký được các hợp đồng xuất khẩu, các doanh nghiệp thương mại sẽ tỏa về miền Tây gom hàng thông qua các doanh nghiệp lau bóng địa phương. Trong những thời điểm hợp đồng xuất khẩu nhiều, nhu cầu mua tăng cao sẽ dẫn đến tình trạng “tranh mua”, gây ra sự biến động giá mạnh ở thị trường nội địa.

Khi Nghị định 109 có hiệu lực, nhiều doanh nghiệp thương mại không đủ điều kiện sẽ không còn tham gia vào hoạt động xuất khẩu, dẫn đến lượng xuất khẩu mà các doanh nghiệp này đảm nhiệm trước đây sẽ bị ảnh hưởng. Chưa có thống kê chính xác về tỷ trọng của các hợp đồng xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp thương mại trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam nhưng có thể khẳng định con số không phải nhỏ. Giả sử con số là 20% thì mỗi năm các doanh nghiệp này cũng xuất khẩu đến trên 600 triệu đô la Mỹ.

Sự thiếu vắng của các doanh nghiệp thương mại cũng sẽ làm cho xu hướng phụ thuộc vào hợp đồng chính phủ ngày càng lớn, hạn chế sự đa dạng hóa thị trường. Ưu điểm của các hợp đồng chính phủ là độ an toàn trong thanh toán cao, lượng hàng lớn nhưng trong dài hạn việc xuất khẩu qua hình thức này không phải dễ dàng.

Mặt khác, nhiều hợp đồng thương mại dù số lượng ít, nhưng cũng giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường và thu được giá cao nên nếu thiếu các doanh nghiệp thương mại thì xuất khẩu gạo cũng bị ảnh hưởng. Hơn nữa, có thể các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có vị thế cao hơn trong thương lượng xuất khẩu, nhưng lấy gì đảm bảo giá thu mua lúa của người dân sẽ tốt hơn?

Cơ hội của ai?

Nghị định 109 dẫn đến việc các doanh nghiệp thương mại bỏ lại một “khoảng trống” về xuất khẩu gạo nhưng ai có thể nắm bắt cơ hội này?

Hiện nay, trong chuỗi giá trị lúa gạo, chủ thể có năng lực mạnh nhất là doanh nghiệp nhà nước có lẽ sẽ không có nhiều động lực để bỏ công sức mở rộng thị phần bởi đã “tại vị” nhiều năm với các hợp đồng chính phủ quy mô lớn; các thương lái với quy mô nhỏ và đã quen với kiểu cách kinh doanh truyền thống nên cũng rất khó chuyển hóa thành các nhà chế biến lau bóng và vươn ra xuất khẩu. Chỉ còn lại các doanh nghiệp lau bóng ở miền Tây hoặc chính các doanh nghiệp thương mại sẽ phải tự chuyển hóa để nắm lấy cơ hội.

Ở ĐBSCL hiện có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân có kinh nghiệm kinh doanh lúa gạo ở địa phương, hiểu biết sâu sắc về nguồn hàng, tích lũy được vốn và đất đai để tăng cường năng lực về kho tàng và chế biến. Tuy nhiên, một trong những điểm hạn chế của các doanh nghiệp này là chỉ dừng ở khâu cung ứng hàng xuất khẩu chứ không vươn lên trở thành nhà xuất khẩu trực tiếp. Ngoài ra, vì có quy mô “gia đình” nên các doanh nghiệp này cũng thiếu động lực để tự cải tiến, tiếp nhận nguồn vốn, công nghệ, tiếp thu công nghệ quản lý hiện đại để mở rộng phát triển. Như vậy, sau khi Nghị định 109 có hiệu lực, hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo có thể xảy ra những khả năng sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp tư nhân ở miền Tây năng động mở rộng hoạt động sang xuất khẩu sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn. Vấn đề ở chỗ các doanh nghiệp này cần phải tăng cường năng lực thương mại.

Thứ hai, sự kết hợp giữa doanh nghiệp thương mại và chế biến lau bóng ở miền Tây có thể không dễ dàng vì loại hình kinh doanh tư nhân khó tiếp nhận góp vốn như công ty cổ phần… nên sẽ có các doanh nghiệp thương mại tiến về miền Tây để tự đầu tư chế biến. Các doanh nghiệp mới này sẽ cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp chế biến lau bóng ở miền Tây trong việc thu gom hàng hóa và xuất khẩu.

Thứ ba, khoảng trống về xuất khẩu do các doanh nghiệp thương mại để lại có thể là cơ hội để các nhà đầu tư và doanh nghiệp mới gia nhập vào lĩnh vực xuất khẩu gạo, không chỉ có các doanh nghiệp nội địa mà cả các doanh nghiệp nước ngoài.

Thứ tư, trong bối cảnh hiện nay, nếu chính quyền địa phương trợ giúp các doanh nghiệp lau bóng ở miền Tây tăng cường năng lực làm thương mại, vươn lên xuất khẩu trực tiếp thì sẽ đem lại nhiều lợi ích lớn không chỉ đối với bản thân các doanh nghiệp bởi địa phương cũng sẽ có được các doanh nghiệp mạnh, tạo nguồn thu cho ngân sách.

Thứ năm, nếu việc tiến về miền Tây gặp trở ngại, môi trường đầu tư kinh doanh xuất khẩu gạo không thuận lợi thì cũng có khả năng có những doanh nghiệp thương mại sẽ tìm kiếm cơ hội ở Campuchia.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới