Thứ Sáu, 21/06/2024, 23:55
25.6 C
Ho Chi Minh City

Vốn cho nông nghiệp: như đôi đũa lệch

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Vốn cho nông nghiệp: như đôi đũa lệch

Hồng Văn

Nhân viên tín dụng của Tổ chức tài chính vi mô Dariu đang tiếp xúc với nông dân nghèo ở huyện miền núi Tân Phú, Đồng Nai-Ảnh: Hồng Văn

(TBKTSG Online) – Vốn tín dụng đầu tư cho khu vực nông nghiệp-nông thôn trong vòng chục năm qua không chỉ chiếm tỷ trọng quá thấp trong tổng vốn tín dụng đầu tư cho nền kinh tế nếu so với hiệu quả xã hội và kim ngạch xuất khẩu mà nó mang lại, mà còn tăng trưởng chậm và chênh lệch giữa các vùng miền lại quá lớn.

100 đồng vốn FDI thì chỉ có 3 đồng cho nông nghiệp

Theo số liệu chưa đầy đủ của Bộ Kế hoạch-Đầu tư, trong vòng 5 năm qua, Chính phủ đã đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn 113.000 tỉ đồng, chỉ chiếm 8,7% vốn đầu tư của nhà nước dành cho nền kinh tế và chỉ đáp ứng 17% nhu cầu phát triển hạ tầng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Không chỉ đầu tư ít mà chính sách bảo hộ nông nghiệp của Việt Nam quy ra tiền hiện chỉ ở mức 4% giá trị ngành nông nghiệp (tương đương khoảng 260 triệu đô la Mỹ), trong khi cam kết của Việt Nam và Tổ chức thương mại thế giới (WTO), bảo hộ nông nghiệp có thể lên tới 10%, tức 650 triệu đô la Mỹ.

Ngay cả ngân sách nhà nước dành cho khuyến nông, tức chi cho bộ máy hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp lẫn việc đầu tư thực hiện các mô hình trình diễn nông nghiệp cho nông dân tham khảo cả nước chỉ có 100 – 200 tỉ đồng mỗi năm, trong khi cam kết với WTO có thể cao gấp 30 lần số tiền này.

Trong hơn chục năm qua, với các ngành khác, sự tham gia đầu tư của doanh nghiệp tư nhân thể hiện khá rõ nét vai trò của mình thì trong nông nghiệp lại hoàn toàn ngược lại.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, hiện cả nước có có 16.000 doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nông nghiệp với vốn 1,3 tỉ đô la Mỹ, chỉ chiếm 9,4% về số lượng và 9% tổng vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp tư nhân cả nước.

Với các ngành hàng khác, doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, kinh doanh đa ngành không hiếm nhưng với nông nghiệp, chỉ có 1% số doanh nghiệp có quy mô vốn hơn 200 tỉ đồng và 60% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng.

Vài năm trở lại đây, ngành nông nghiệp thu hút khoảng 200 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn xấp xỉ 200 triệu đô la Mỹ hàng năm, tính ra mức vốn bình quân trong mỗi dự án FDI trong ngành nông nghiệp chỉ 1 triệu đô la Mỹ, thấp hơn nhiều so với các ngành khác. Tính tới nay, vốn FDI vào nông nghiệp, nông thôn chỉ chiếm 3% tổng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Vốn ngân hàng: thấp, manh mún  

Chính sách cho vay vốn có hỗ trợ lãi suất nhằm kích cầu nông thôn của Chính phủ để nông dân có thể vay mua xe tải nhẹ dưới 5 tấn, thay thế những phương tiện vận tải thô sơ như chiếc xe ngựa trong ảnh. Ảnh: Hồng Văn

Theo đề án phát triển tam nông của Ngân hàng Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng vào khu vực nông nghiệp, nông thôn vừa thấp lại manh mún, phân tán, lãi suất cho vay chưa tương xứng với lợi nhuận và thu nhập trong nông nghiệp.  

Tới cuối năm 2008, tổng dư nợ của vốn tín dụng nông nghiệp, nông thôn tăng 15,1% so với năm 2007, đạt 248.000 tỉ đồng, chỉ chiếm có 20 % so với tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Điều đáng nói, theo thống kê của Agribank, tỷ trọng dư nợ tín dụng trong tổng dư nợ của nền kinh tế đang có xu hướng giảm dần, mặc dù dư nợ tín dụng nông nghiệp vẫn tăng qua hàng năm.

Trước năm 2006, tỷ trọng dư nợ tín dụng nông nghiệp trong tổng dư nợ từ 23-27% thì 2 năm gần đây, giảm xuống còn 19-20%. Tốc độ tăng trưởng dư nợ cũng tương tự, như năm 2007, tăng trưởng dư nợ của nền kinh tế đạt mức cao nhất trong vòng chục năm qua, với 51% thì tăng trưởng dư nợ tín dụng nông nghiệp bằng một nửa, còn các năm khác thì tăng trưởng dư nợ tín dụng nông nghiệp thường thấp hơn 5-10%.

Cơ cấu đầu tư của tín dụng nông nghiệp cũng mất cân đối trầm trọng. Theo số liệu của Trung tâm thông tin tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước, đầu tư vốn tín dụng cho nông nghiệp thì Đông Nam bộ chiếm cao nhất với 42%, đồng bằng sông Hồng 29%, đồng bằng sông Cửu Long 10%, Tây Nguyên có 3% và vùng Tây Bắc chỉ có 1%.

Hiện tại, hệ thống Agribank, Ngân hàng Chính sách xã hội và hệ thống quỹ tín dụng nhân dân chiếm 85% dư nợ cho vay khu vực nông nghiệp, chứng tỏ các tổ chức tín dụng khác tham gia cho vay khu vực này còn quá nhỏ.   Do vậy nên mới có chuyện ở các thành phố lớn, khu vực đô thị, hàng loạt các ngân hàng thương mại đua nhau mở thêm chi nhánh, phòng giao dịch thì khu vực nông thôn, phần đông hiện nay ở cấp huyện chỉ có chi nhánh Agribank, của Ngân hàng Chính sách xã hội và một vài phòng giao dịch ở các khu vực đông dân cư của hai tổ chức tín dụng này.

Nông dân tự đầu tư: quá nhỏ

Với nông dân, vốn tự có của họ chủ yếu là sức lao động và các tài sản giản đơn do gia đình tự tạo dựng, còn vốn tự có bằng tiền để cùng hợp vốn với vốn tín dụng của ngân hàng chiếm tỷ trọng rất thấp, thậm chí nhiều nơi không có. Theo điều tra của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp-nông thôn, từ năm 2002 trở lại đây, mức tích lũy trung bình của một người dân ở nông thôn chỉ từ 800.000 – 1.000.000 đồng/năm.

Do vậy, việc nông dân sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư rất hiếm, ngoại trừ các trang trại trồng trọt, chăn nuôi có quy mô lớn. Phần đông nông dân chỉ “lấy công làm lời” như một cách tự trả công lao đồng cho mình chứ hiếm khi nghĩ tới lợi nhuận và tái đầu tư.

Còn doanh nghiệp ngành nông nghiệp thì có tới 42% có vốn dưới 1 tỉ đồng và không ít doanh nghiệp phải hoạt động dựa tới 90% từ nguồn vốn vay ngân hàng, do vậy, với các tổ chức tín dụng, cho vay khu vực doanh nghiệp nông nghiệp là nơi có nhiều rủi ro cao.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới