Thứ Hai, 15/07/2024, 23:43
26.2 C
Ho Chi Minh City

Việt Nam chịu tác động kép từ suy giảm kinh tế Trung Quốc

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Việt Nam chịu tác động kép từ suy giảm kinh tế Trung Quốc

Minh Tâm

(TBKTSG Online) – Triển vọng kinh tế 2016 của Trung Quốc với việc dư thừa nguồn cung trong khi cầu nội địa giảm mạnh sẽ có tác động lớn đến Việt Nam, từ cán cân thương mại đến lao động trong tương lai gần. Bên cạnh đó, còn có nhiều nguy cơ sẽ xuất hiện trong dài hạn.

Việt Nam chịu tác động kép từ suy giảm kinh tế Trung Quốc
Tọa đàm thu hút đông đảo người tham dự. Ảnh: Minh Tâm

Đây là những chia sẻ, nhận định của các chuyên gia về Trung Quốc tại Buổi tọa đàm với chủ đề: "Trung Quốc năm 2015, nhìn về 2016 và tác động đến Việt Nam" do Nhóm báo Thời báo Kinh tế Sài Gòn phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu quốc tế (SCIS) thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức hôm nay, 20-11.

Ông Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận định rằng triển vọng kinh tế của Trung Quốc năm 2016 sẽ không khả quan khi đà suy giảm sẽ tiếp tục. Tăng trưởng sẽ dao động ở mức 4,5 – 5% GDP. Cầu nội địa rất thấp nên sản lượng hàng sản xuất sẽ tiếp tục dư thừa.

Bối cảnh này sẽ khiến các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chịu tác động suy giảm kép: vừa bị giảm lượng hàng xuất khẩu do nhu cầu “ăn hàng” giảm, vừa bị giảm giá. Cơ cấu hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc là các loại tài nguyên, nông sản thô chưa qua tinh chế.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ chịu sức ép mạnh mẽ từ làn sóng "đẩy hàng" dư thừa từ Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á với giá không ai cạnh tranh được (phá giá). “Chênh lệch về cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục gia tăng,” ông Thành nhận định.

Bên cạnh đó, theo ông Thành, các doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực tương tự với Trung Quốc cũng sẽ chịu tác động lớn với sức ép cạnh tranh nặng nề về giá.

Xét riêng về góc độ chuỗi sản xuất thì những dịch chuyển của Trung Quốc với những nhà máy đang dư thừa công suất và sản lượng sang Việt Nam một mặt có thể giúp Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu (các hợp đồng gia công, cung cấp hàng hóa cho các tập đoàn lớn) nhưng mặt khác tạo ra áp lực cạnh tranh ghê gớm, nhất là khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và nỗ lực tận dụng những lợi thế mà TPP mang lại.

Đặc biệt, theo ông Thành, trong xu hướng “đẩy” doanh nghiệp trong nước ra nước ngoài theo sau những dự án đầu tư hạ tầng, lao động Trung Quốc sẽ tiếp tục có mặt ở các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, làm giảm cơ hội việc làm của lao động bản địa. Quan trọng hơn, chính phủ Trung Quốc đang có xu hướng gia tăng bảo vệ người Trung Quốc ở nước ngoài nên nếu có vấn đề gì với người lao động Trung Quốc thì chính quyền các địa phương vốn đang có nhiều lao động Trung Quốc như Đà Nẵng, Hà Tĩnh sẽ phải chịu những sức ép khi giải quyết tình hình thực tế.

Khó khăn ít nhất hai năm nữa

Trả lời câu hỏi của doanh nghiệp về dự báo tình hình khó khăn sẽ kéo dài bao lâu, ông Phạm Sỹ Thành cho rằng suy giảm tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc ngày càng rõ nét và sẽ kéo dài chu kỳ cho đến khi nào con số tăng trưởng danh nghĩa (con số mục tiêu mà chính phủ đề ra) về mức 5,5% (hiện đang là 7%).

Bởi lẽ, vấn đề cốt lõi của nền kinh tế Trung Quốc lúc này là thị trường bất động sản (đóng băng, tồn kho lớn, nợ xấu) và núi nợ (ước tính lên đến 27.000 tỉ đô la Mỹ). Và để xử lý thì cần thời gian dài. Do vậy, theo ông Thành, sản xuất của Trung Quốc trong vòng 2-3 năm tới vẫn khó khăn.

Và trong thời gian này, ông Thành e ngại, chính sách phá giá đồng tiền của Chính phủ Trung Quốc sẽ không tốt. Ông Thành cho rằng, giới hạn thâm hụt ngân sách của Trung Quốc sẽ bị phá vỡ để thỏa mãn mục tiêu tăng trưởng.

Đồng nhân dân tệ đã tăng giá khoảng 15% trong vòng một năm qua. Dư địa để nới lỏng tiền tệ vẫn còn. Tuy nhiên, mức độ như thế nào còn phụ thuộc vào việc đồng nhân dân tệ có được tham gia rổ tiền tệ Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hay không.

Ông Thành kết luận, trong tương lai 2-3 năm, ông không nhìn thấy thuận lợi nào cho doanh nghiệp Việt Nam khi nền kinh tế Trung Quốc vẫn ở xu thế giảm, đẩy doanh nghiệp và sản lượng hàng hóa sản xuất ra bên ngoài. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu nhiều áp lực khi đối đầu trực diện.

Mối nguy lâu dài

Ông Trương Minh Huy Vũ, Giám đốc SCIS, cho rằng trong bối cảnh kinh tế kể trên, Trung Quốc còn đang rất nỗ lực kết nối với khu vực Đông Nam Á (được chia thành khu vực lục địa với các nước gồm Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và khu vực hải đảo với Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines).

Trong đó, việc kết nối với khu vực Đông Nam Á lục địa ngày càng có những dấu hiệu rõ ràng với hàng loạt các dự án đầu tư về đường sá, cầu và cảng biển tại Thái Lan, Campuchia, Lào… Mục tiêu cuối cùng là để chuyển hàng Trung Quốc đi khắp nơi.

Theo ông Vũ, điều này rất nguy hiểm cho nền kinh tế Việt Nam. Bởi lẽ, hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam làm theo đường chữ Y, đi từ Lào Cai xuống phía Nam nhưng ngần ngại vượt dãy Trường Sơn để kết nối Lào, Thái Lan, Campuchia.

“Khi cảng của Thái Lan, Myanmar mở như vậy, vấn đề đặt ra là các đầu tư cơ sở của chúng ta ngoài việc gắn với Trung Quốc thì để làm gì? Ngoài cảng Sài Gòn nằm trên con đường hàng hải quốc tế, hàng loạt các cảng biển khác từ TPHCM trở xuống sẽ dùng để làm gì? Đây là bài toán rất lớn. Một khi đòn bẩy cơ sở hạ tầng chạy dọc từ Trung Quốc xuống Bangkok, Thái Lan xong xuôi thì con đường song song của chúng ta dù đã phải vay rất nhiều tiền để đầu tư sẽ trở nên lãng phí. Đây là thách thức hiện hữu trong 30 – 50 năm nữa”, ông Vũ cảnh báo.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới