Thứ Bảy, 22/06/2024, 13:26
30 C
Ho Chi Minh City

Vay vốn – không chỉ có ở ngân hàng

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Vay vốn – không chỉ có ở ngân hàng

Khách hàng giao dịch tại HSBC ở TPHCM. Ảnh: K.M

(TBKTSG) – Trong bối cảnh lãi suất cho vay cao ngất ngưởng hiện nay, phát hành trái phiếu công ty là một hướng thay thế cho nguồn vốn tín dụng ngân hàng mà không làm thay đổi hệ số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.

Ngân hàng lãi lớn, còn nền kinh tế thiệt hại

Hiện nay khi lãi suất huy động được các ngân hàng đồng thuận khống chế mức trần 11%/năm, còn lãi suất cho vay bị đẩy lên 17-18 %/năm thì chênh lệch lãi suất cũng ở mức kỷ lục 6-7 điểm phần trăm. Nếu đứng ở gốc độ này thì không có gì bất ngờ khi kết quả kinh doanh trong quí 1-2008 của các ngân hàng như Sacombank, ACB đều vượt kế hoạch.

Chẳng hạn Sacombank, quí 1 lợi nhuận đạt 435 tỉ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ năm 2007; tổng tài sản đạt 75.205 tỉ đồng, tăng 135% so với cùng kỳ. Với Ngân hàng Quân đội và Ngân hàng Kỹ thương thì mức lợi nhuận có phần khiêm tốn hơn với các con số tương ứng là 240 tỉ đồng và 220 tỉ đồng. Tuy nhiên ACB mới là ngân hàng có lợi nhuận cao nhất, 501 tỉ đồng, tăng 1,2 lần so với cùng kỳ 2007.

Việc các ngân hàng làm ăn có lãi là điều rất đáng mừng. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp ngành nào cũng có được kết quả kinh doanh tốt như các ngân hàng khi mức chênh lệch lãi suất cao như vậy. Nếu giảm mức chênh lệch lãi suất này xuống năm điểm phần trăm, khi đó lãi suất huy động chỉ ở mức 6% trong khi lãi suất cho vay cũng ngất ngưởng 13%. Rõ ràng trong điều kiện bình thường của nền kinh tế thì sự chênh lệch lãi suất quá cao như vậy là một điều bất hợp lý lớn và khó có thể chấp nhận.

Chênh lệch lãi suất huy động và cho vay quá cao sẽ làm cho mục tiêu kiềm chế lạm phát khó đạt được xét ở cả hai hướng. Lãi suất huy động như hiện nay sẽ không kích thích nền kinh tế gia tăng tiết kiệm, gây áp lực tăng tổng cầu và tăng giá. Người gửi tiền phải chịu lãi suất thực âm nhưng họ không có nhiều lựa chọn vì các ngân hàng đã liên kết để áp đặt luật chơi cho thị trường, cùng với đó là sự “nuông chiều” quá mức từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Tiền trong lưu thông không dịch chuyển vào hệ thống ngân hàng thì mục tiêu hút tiền ra khỏi lưu thông khó đạt được. Trong khi đó, lãi suất cho vay quá cao làm cho chi phí vốn sản xuất tăng cao và cuối cùng gây áp lực tăng giá. Hơn nữa chi phí sản xuất tăng cao còn làm cho quy mô sản xuất bị thu hẹp và giảm tổng cung. Như vậy, chênh lệch lãi suất cao có lợi cho các ngân hàng trung gian nhưng gây thêm khó khăn cho mục tiêu kiềm chế lạm phát và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay.

Phát huy vai trò thị trường tài chính trực tiếp

Thu hẹp khe hở lãi suất qua trung gian ngân hàng là một trong những biện pháp để kiểm soát lạm phát. Hướng đi cho giải pháp này là cần làm cho thị trường tài chính trở nên hoàn hảo hơn, cân đối hơn, tức cần phát huy vai trò của thị trường tài chính trực tiếp.

Thị trường tài chính trực tiếp, nơi nhà đầu tư trực tiếp tiếp cận người tiết kiệm, sẽ tạo cơ chế điều tiết mức chênh lệch lãi suất trên thị trường tài chính gián tiếp (qua trung gian ngân hàng, công ty tài chính…). Khi chênh lệch lãi suất quá cao vượt quá chi phí thông tin hay chi phí tìm gặp và các phần bù rủi ro của nó thì dòng vốn sẽ chảy mạnh hơn trên thị trường tài chính trực tiếp. Khi ấy người tiết kiệm có thể đạt được mức sinh lời của vốn cao hơn, chẳng hạn là 14%, mà chi phí sử dụng vốn của người đầu tư cũng được lợi hơn tương ứng, từ mức 17% nay xuống còn 14%.

Vốn tín dụng từ ngân hàng là nguồn vốn nợ phải trả của doanh nghiệp. Phát hành trái phiếu công ty là một hướng thay thế cho nguồn vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp hiện nay mà không làm thay đổi hệ số đòn bẩy tài chính.

Tại Việt Nam, Luật Chứng khoán quy định về phát hành trái phiếu ra công chúng của doanh nghiệp với các điều kiện như doanh nghiệp phải có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỉ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm; có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty thông qua…

Riêng đối với việc phát hành trái phiếu riêng lẻ thì theo Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19-5-2006 của Chính phủ với các điều kiện như có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động; có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán; kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm liền kề năm phát hành phải có lãi; có phương án phát hành trái phiếu được tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua.

Mặc dù những điều kiện phát hành còn gây trở ngại ít nhiều cho các doanh nghiệp, (chẳng hạn việc quy định trong Luật Chứng khoán về mức vốn điều lệ đã góp từ 10 tỉ đồng trở lên đã loại đi hơn 90% các doanh nghiệp trong nền kinh tế), tuy nhiên những điều kiện trên là cần thiết vì nó giúp kiểm soát, sàng lọc và ngăn ngừa việc phát hành trái phiếu vay vốn của các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân, góp phần kiểm soát rủi ro cho hệ thống tài chính.

Như vậy có thể nói rằng, cho đến hiện nay hệ thống pháp luật cho việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp để vay vốn trực tiếp từ thị trường tài chính về cơ bản là đầy đủ. Các doanh nghiệp nên thay đổi dần thói quen tìm nguồn tài trợ vốn từ các ngân hàng sang tiếp cận vốn từ nguồn thị trường tài chính trực tiếp. Đa dạng hóa kênh huy động vốn sẽ giúp cho các doanh nghiệp hạn chế được khó khăn khi thị trường tài chính bị mất cân đối hay khủng hoảng.

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Đại học Ngân hàng TPHCM

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới