Thứ Bảy, 13/07/2024, 07:47
26.2 C
Ho Chi Minh City

Từ kết quả điều tra ở doanh nghiệp FDI: Thế hệ nhà đầu tư mới đâu rồi!

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Từ kết quả điều tra ở doanh nghiệp FDI: Thế hệ nhà đầu tư mới đâu rồi!

Đậu Anh Tuấn

Nhân viên trong nhà máy của Công ty Foxconn HP (Đài Loan) ở khu công nghiệp Bắc Ninh. Ảnh: ĐỨC THANH.

(TBKTSG) – Khi điều tra, nhóm nghiên cứu PCI hỏi các doanh nghiệp FDI rằng trong quá trình quyết định đầu tư vào Việt Nam có cân nhắc đầu tư ở nước khác không. 52% trả lời có, trong đó 30% cho biết Trung Quốc là cân nhắc của họ.

Chi phí thấp là động lực đầu tư

Các nhà đầu tư nước ngoài xem các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất là quan trọng nhất, trong đó chi phí lao động đứng đầu sự lựa chọn, tiếp đến là thuế và đất đai. Chi phí cho hàng hóa và dịch vụ trung gian cũng nằm trong nhóm năm nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất. Ổn định chính trị xếp vị trí thứ ba.

Không có nhiều sự khác biệt về các yếu tố quyết định lựa chọn đầu tư theo quy mô, ngành nghề kinh doanh, thời gian hoạt động, nguồn gốc và loại hình vốn FDI.

Ngoài một số yếu tố khác như chi phí hàng hóa và dịch vụ trung gian được các nhà đầu tư Hoa Kỳ lựa chọn thì ba yếu tố chi phí lao động, ổn định chính trị và các ưu đãi về thuế luôn được các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình xếp hạng là các yếu tố quan trọng nhất. Điểm khác biệt duy nhất là thứ tự xếp hạng của ba yếu tố này.

Các doanh nghiệp trong ngành sản xuất công nghiệp và nông nghiệp có xu hướng coi yếu tố chi phí lao động là yếu tố quan trọng nhất, tuy nhiên các doanh nghiệp trong khối dịch vụ và xây dựng lại coi trọng tính ổn định chính trị hơn.

Đối với quyết định lựa chọn tỉnh, thành phố để đầu tư, 62% doanh nghiệp đã có cân nhắc các địa điểm khác trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về tỉnh, thành phố đầu tư hiện tại. Các địa phương được xem xét phổ biến nhất lần lượt là Bình Dương, Hà Nội, Đồng Nai và Bắc Ninh… Trong các lý do giải thích tại sao các nhà đầu tư lựa chọn một địa phương cụ thể, các yếu tố giúp giảm chi phí lại dẫn đầu danh sách.

Theo điều tra, hơn 60% doanh nghiệp nước ngoài tham gia điều tra PCI được hưởng ưu đãi về thuế, trong đó hơn 90% các doanh nghiệp trong ngành sản xuất, nông nghiệp, khai thác tài nguyên và 60% ở ngành xây dựng và dịch vụ.

Hướng tới thế hệ nhà đầu tư mới

Dữ liệu điều tra trong nghiên cứu PCI cho thấy rằng đa số doanh nghiệp FDI tại Việt Nam là những doanh nghiệp sản xuất tương đối nhỏ, chủ yếu hoạt động xuất khẩu và chọn đầu tư vào Việt Nam do chi phí lao động thấp.

Thời điểm này vẫn chưa nhiều nhà đầu tư thế hệ tiếp theo lựa chọn đầu tư vào Việt Nam.

Theo tính toán từ mẫu điều tra doanh nghiệp FDI cả nước, chỉ khoảng 5% nhà đầu tư tham gia vào sản xuất trong những lĩnh vực có công nghệ hiện đại, như các ngành công nghệ thông tin và truyền thông, khoảng 5% khác tham gia vào các dịch vụ khoa học, kỹ thuật và 3,5% tham gia ngành bảo hiểm và tài chính có sử dụng kỹ năng quản lý hiện đại và đòi hỏi lao động trình độ cao.

Rõ ràng phát triển kinh tế dựa vào loại hình FDI này không phải là một chiến lược bền vững. Chi phí lao động và giá cả nguyên vật liệu đầu vào trong nước đang có xu hướng gia tăng, vì vậy, theo quy luật, nhà đầu tư sản xuất dựa vào chi phí thấp sẽ tìm kiếm các địa điểm đầu tư khác ít đắt đỏ hơn. Các chính sách ưu đãi về tài chính cũng chỉ giúp giữ chân một số nhà đầu tư loại này trong thời gian ngắn, trong khi nguồn lực này có thể dùng để đầu tư hiệu quả hơn cho phát triển nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng, các yếu tố quan trọng đối với thế hệ nhà đầu tư nước ngoài tiếp theo.

Tuy vậy, đáng lo ngại là chất lượng lao động hiện chưa đáp ứng được mong muốn của các nhà đầu tư. Điều tra PCI 2010 cho thấy các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá chất lượng lao động đang tạo nhiều gánh nặng hơn so với đánh giá của doanh nghiệp trong nước. Chỉ 21,6% doanh nghiệp nước ngoài hài lòng về đào tạo nghề, bằng một nửa so với doanh nghiệp trong nước (43,6%).

Nếu các doanh nghiệp hiện tại cho rằng chất lượng lao động không đáp ứng được đòi hỏi của ngành sản xuất công nghệ vốn đã thấp của họ, thì các nhà đầu tư công nghệ cao sẽ tuyển dụng lao động như thế nào? Nếu tình trạng ách tắc hàng hóa khi thông quan và việc trả chi phí không chính thức khá phổ biến đang cản trở xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giá trị gia tăng thấp, điều gì sẽ xảy ra với các doanh nghiệp xem thời gian thậm chí còn quan trọng hơn? Nếu việc bảo vệ quyền tài sản trí tuệ và thực hiện hợp đồng khiến nhà đầu tư hiện tại khó tìm được đối tác trong nước, điều gì sẽ xảy ra đối với những nhà đầu tư coi trọng vấn đề về công nghệ? Và nếu tham nhũng trong các quy trình cấp phép trở nên phổ biến trong cộng đồng các nhà đầu tư có lợi nhuận thấp, thì vấn đề sẽ còn trầm trọng hơn đối với các nhà đầu tư có lợi nhuận cao.

Việc thu hút đầu tư vào những ngành sản xuất và dịch vụ phức tạp có giá trị gia tăng cao hơn khó có thể thực hiện bằng các chiến lược ưu đãi có mục tiêu. Vì kinh nghiệm cho thấy các nước đang phát triển không thể triển khai chiến lược này hiệu quả, cuối cùng thường dẫn đến bóp méo thị trường trong nền kinh tế.

Bức tranh hiện tại

– 65% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) trong điều tra PCI hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 28% tham gia vào ngành dịch vụ, bán lẻ hay tài chính.

– Đầu ra của doanh nghiệp FDI là dành cho xuất khẩu. 67% doanh nghiệp thuộc nhóm này xuất khẩu hơn một nửa sản phẩm của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

– Quy mô doanh nghiệp FDI tại Việt Nam không lớn. Trên 14% doanh nghiệp FDI có 500 lao động và 13% hiện có vốn đầu tư trên 10 triệu đô la Mỹ.

– Doanh thu trung bình năm 2009 của các doanh nghiệp này đạt khoảng 1 triệu đô la Mỹ, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn theo báo cáo đạt 11%. Có khoảng 19% doanh nghiệp FDI báo cáo lỗ trong năm 2009, lĩnh vực có ít doanh nghiệp thua lỗ nhất là nông/ngư nghiệp (4%) và khai khoáng (8,8%). Dịch vụ là ngành có tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ cao nhất (19,8%).

– Trên 77% doanh nghiệp hình thành sau khi hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết. Dù ở các mức lợi nhuận khác nhau, doanh nghiệp FDI vẫn lạc quan về môi trường kinh doanh, với 66% các doanh nghiệp được khảo sát mong muốn mở rộng hoạt động của họ trong hai năm tới, tương tự với mức độ lạc quan của các doanh nghiệp trong nước trong năm 2010.

Đặc điểm của cuộc điều tra

Mặc dù đây không phải là cuộc điều tra đầu tiên về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nhưng đây lại là cuộc điều tra lớn nhất và toàn diện nhất. Điều tra FDI tiến hành tại 1.155 doanh nghiệp FDI đến từ 47 quốc gia khác nhau và hoạt động trên khắp 63 tỉnh, thành trên cả nước dù nhiều tỉnh chỉ có một hoặc hai dự án FDI hoạt động.

Nhóm nghiên cứu PCI sử dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng để phản ánh các đặc điểm của nhà đầu tư ở cấp tỉnh, nên các tỉnh có ít doanh nghiệp FDI được lấy mẫu nhiều hơn. Điều này sẽ giúp đưa ra kết luận có ý nghĩa thống kê về những địa phương không được nhà đầu tư lựa chọn nhiều và so sánh chúng với các địa phương thu hút được nhiều FDI hơn. Để có được số liệu thống kê FDI trên toàn quốc, tính toán lại trọng số để phản ánh tỷ trọng doanh nghiệp FDI thực tế tại các trung tâm lớn như Hà Nội và TPHCM.

Lưu ý rằng đây là kết quả điều tra về các doanh nghiệp FDI hiện tại, đang hoạt động tại Việt Nam. Các yếu tố thu hút và yêu cầu của các doanh nghiệp FDI hiện tại không nhất thiết thể hiện mong muốn của các nhà đầu tư trong tương lai.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới