Thứ Tư, 19/06/2024, 11:43
32.8 C
Ho Chi Minh City

Trao đổi về bài “Liệu pháp nặng ký cho lãi suất”

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Trao đổi về bài “Liệu pháp nặng ký cho lãi suất”

Lê Duy Khánh

TBKTSG số ra ngày 28-7-2011 có đăng bài “Liệu pháp nặng ký cho lãi suất” của Hải Lý. Trong đó, tác giả cho rằng nếu thực hiện được các giải pháp đề cập trong bài viết thì có thể giải quyết được những “cơn sốt thanh khoản” và lãi suất có thể giảm nhanh. Tuy vậy, những giải pháp này chắc chắn cần thêm nhiều ý kiến trao đổi.

Thế chấp vốn điều lệ để vay vốn Ngân hàng Nhà nước (NHNN)?

Liệu thế chấp vốn điều lệ để xin tái cấp vốn tại NHNN có được không? Thật ra, hình thức này về bản chất cũng không khác mấy so với tái cấp vốn bằng thế chấp hồ sơ tín dụng. Đối với thế chấp hồ sơ tín dụng, TS. Lê Xuân Nghĩa đã có lần nói rằng đây là cách cho vay “không giống ai”. Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này.

Có lần tôi đã hỏi một phó giáo sư, tiến sĩ của trường Đại học Kinh tế TPHCM rằng: “Nếu tổ chức tín dụng (TCTD) vay vốn theo hình thức này mà không có khả năng trả nợ thì NHNN sẽ xử lý như thế nào, có xử lý được hồ sơ tín dụng mà TCTD đã thế chấp không?”. Câu trả lời mà tôi nhận được là “giải quyết thế nào trong hợp đồng vay vốn sẽ có quy định”. Đó là câu trả lời “không giống ai” như chính cách cho vay này của NHNN.

Thật ra, câu trả lời không quá khó, đó là NHNN nếu không muốn thất thoát tài sản của Nhà nước thì bằng mọi giá phải cứu con nợ, không để cho con nợ phá sản. Còn nếu không thể cứu hoặc vì lý do gì đó mà NHNN không muốn cứu thì việc thanh toán các khoản nợ này theo trình tự đã quy định về phá sản TCTD trong Luật các TCTD và Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18-01-2010 của Chính phủ.

Còn những hồ sơ tín dụng kia không phải để bảo đảm cho khả năng trả nợ, mà là để bảo đảm cho một niềm tin nào đó!? Vấn đề pháp lý về việc thế chấp hồ sơ tín dụng để vay vốn tại NHNN của các TCTD có hợp pháp hay không, muốn hợp pháp thì các thủ tục phải thực hiện như thế nào sẽ còn là một câu chuyện dài không dễ tìm ra câu trả lời thỏa đáng.

Thế chấp vốn điều lệ thì khi các TCTD không trả được nợ, NHNN sẽ xử lý như thế nào? NHNN sẽ trở thành chủ sở hữu của số cổ phần tương ứng với vốn điều lệ thế chấp như người viết đề xuất theo tôi là chưa ổn. Các cổ phần thuộc về cổ đông của TCTD và theo nguyên tắc, nếu không được sự đồng ý của các cổ đông đó, TCTD (đại diện là hội đồng quản trị) hoàn toàn không có quyền mang đi thế chấp. Khi NHNN cần xử lý mà cổ đông sở hữu cổ phần không đồng ý chuyển giao quyền sở hữu thì sao?

TCTD có thể triệu tập đại hội đồng cổ đông để đạt được sự đồng thuận về vấn đề này. Nhưng nếu vốn điều lệ hiện là 3.000 tỉ đồng, TCTD chỉ thế chấp 2.000 tỉ đồng vốn điều lệ thì cổ đông nào sẽ “xung phong” mang tài sản của mình ra thế chấp, quyền lợi của họ sẽ như thế nào? Nếu thế chấp toàn bộ vốn điều lệ để một ngày nào đó cổ đông có thể trở thành “tay trắng” thì họ có đồng ý không? Đạt được sự đồng thuận, tìm cách bảo đảm quyền lợi cho cổ đông trong trường hợp này cũng không dễ dàng.

Tuy nhiên, mọi việc sẽ được giải quyết nếu NHNN không cần TCTD thế chấp vốn điều lệ hiện có, mà NHNN có thể cấp thêm vốn cho TCTD. Nếu sau này TCTD không trả nợ được thì số vốn vay này sẽ được chuyển thành vốn điều lệ và do NHNN làm chủ sở hữu. Vấn đề còn lại của phương án này là NHNN cần một cơ chế, và được Chính phủ cho phép, còn đại hội đồng cổ đông của TCTD thì phải đồng ý với phương án này. Những vấn đề này có thể giải quyết được, vì sự tồn tại của bản thân TCTD và của cả hệ thống.

Tăng dự trữ bắt buộc lên 10%?

Tác giả bài viết cũng cho rằng, cần phải nâng dự trữ bắt buộc tiền đồng lên 10% (hiện là 3% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng), đồng thời nâng lãi suất dự trữ bắt buộc lên ngang với mức lãi suất trái phiếu chính phủ (hiện khoảng 12-13%/năm). Số tiền có được từ dự trữ bắt buộc tăng thêm có thể cho các TCTD vay khoảng 14%/năm. Như vậy, vừa bảo đảm hạ lãi suất và san bằng sự lồi lõm của nguồn vốn trong hệ thống TCTD.

Cách làm này có nhiều vấn đề cần bàn thêm. Trước hết, nói về việc nâng dự trữ bắt buộc. Dự trữ bắt buộc là số tiền mà TCTD phải duy trì tại NHNN trong kỳ dự trữ bắt buộc, được tính bình quân dựa vào số liệu nguồn vốn huy động của kỳ trước đó. Ví dụ, nếu trong kỳ dự trữ bắt buộc có 30 ngày, TCTD có tổng nguồn vốn huy động phải tính dự trữ bắt buộc là 5.000 tỉ đồng (trong đó tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm 70%), thì TCTD phải duy trì dự trữ bắt buộc bình quân 105 tỉ đồng (5.000 x 70% x 3%).

Trong kỳ này thì TCTD có quyền duy trì ngày ít ngày nhiều, miễn sao bình quân đủ 105 tỉ là được. Và thực tế không TCTD nào duy trì suốt 105 tỉ đồng trên tài khoản của NHNN trong 30 ngày, mà thường dồn vào một vài ngày nào đó trong kỳ với số tiền rất lớn, các ngày khác thường duy trì rất thấp để bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn.

Nếu trong 29 ngày của kỳ dự trữ bắt buộc, TCTD chỉ duy trì 10 tỉ đồng thì ngày thứ 30, số tiền mà TCTD phải gửi ở NHNN sẽ lên đến 2.860 tỉ đồng, tức gấp hơn 27 lần số tiền 105 tỉ đồng dự trữ bắt buộc bình quân và hơn một nửa tổng nguồn vốn huy động của TCTD. Nếu nâng dự trữ bắt buộc lên 10%, thì con số mà TCTD phải duy trì vào ngày 30 theo ví dụ trên (tức vẫn chỉ duy trì 10 tỉ đồng hàng ngày trong 29 ngày trước đó) sẽ khoảng hơn 10.000 tỉ đồng, gấp đôi tổng nguồn vốn huy động phải tính dự trữ bắt buộc của TCTD. Đó là lý do mà nguyên Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đã từng gọi đây là giải pháp “thô bạo”! Nếu dồn vào ít ngày trong kỳ dự trữ bắt buộc thì TCTD hoàn toàn có thể không xoay xở nổi số tiền quá lớn như vậy.

Tất nhiên, việc dồn vào chỉ một ngày thì số tiền này là rất lớn, các TCTD phải duy trì số tiền lớn trong nhiều ngày hơn. Khi đó bài toán hiệu quả sẽ được đặt ra. Bài báo đã giải quyết vấn đề này bằng cách nâng lãi suất dự trữ bắt buộc lên ngang với lãi suất trái phiếu chính phủ. Đồng tiền dự trữ bắt buộc không phải là đồng tiền chết, mà như một khoản đầu tư có sinh lãi, mức lãi suất ở đây là có thể “chấp nhận được”.

Tuy nhiên, cái chấp nhận được này chỉ dành cho các ngân hàng lớn, chứ không phải những ngân hàng đang phải “ăn đong”. Cán bộ nguồn vốn của nhiều ngân hàng nhỏ thậm chí chưa bao giờ có suy nghĩ sẽ tham gia bỏ thầu trái phiếu chính phủ, để kinh doanh lấy lời từ loại giấy tờ có giá này. Thanh khoản của họ còn chưa bảo đảm làm sao tính đến chuyện sắm của để dành? Hơn nữa, cho vay nền kinh tế với mức lãi suất bình quân 20%/năm hiện nay rõ ràng là sự lựa chọn tốt hơn, dù chắc chắn có rủi ro cao hơn. Nhưng chấp nhận rủi ro là chuyện đương nhiên, vì ngân hàng là những “kẻ buôn tiền” chứ không phải là người về hưu muốn “ăn chắc, mặc bền”!

Cách dùng lượng tiền dự trữ bắt buộc tăng thêm này để cho vay lại các TCTD cũng không được, con số này theo ước lượng của bài báo là khoảng 150.000 tỉ đồng. Như đã phân tích, số tiền này cũng chỉ mang tính tương đối mà thôi vì không TCTD nào duy trì suốt kỳ dự trữ bắt buộc cả. Sẽ có những ngày số tiền gửi tại NHNN lên rất cao nhưng cũng sẽ có ngày chỉ có vài chục tỉ đồng duy trì cho cả hệ thống. Sau ngày cuối cùng của kỳ dự trữ bắt buộc, số tiền này sẽ được các TCTD lấy về để tính toán cho kỳ dự trữ tiếp theo, khi đó NHNN không còn gì trong tay.

Do đó, không thể tính đến việc lấy số tiền này để cho vay lại. Nhưng nếu con số này ổn định thì có thể cho vay như thế nào? Ai được vay và được vay bao nhiêu? Lấy của tôi rồi trả lại cho tôi sẽ không giải quyết được vấn đề gì, chưa nói đến việc phân phối lại có công bằng, hay lại nảy sinh tiêu cực? Trong khi trước đó, TCTD phải chạy đôn chạy đáo tìm nguồn để nộp cho NHNN, thị trường sẽ “náo loạn”!

Những phân tích trên cho thấy rất khó thực hiện các giải pháp mà bài báo nêu ra. Tuy vậy, đây cũng chỉ là một ý kiến, mong có nhiều thông tin trao đổi từ bạn đọc.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới