Thứ Năm, 20/06/2024, 13:55
32.8 C
Ho Chi Minh City

Tính hai mặt của những chính sách chống lạm phát

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Tính hai mặt của những chính sách chống lạm phát

Tăng thu ngân sách qua tăng thuế có thể giúp tăng GDP nhưng nếu quá lạm dụng công cụ này thì sẽ làm giảm GDP và tăng lạm phát. Ảnh chụp tại Cục Thuế TPHCM. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG) – Các nước khác nhau có những nguyên nhân, cách thức và kết quả chống lạm phát khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều giống nhau ở chỗ: Trong quá trình chống lạm phát thường gặp phải tính chất hai mặt của bản thân các chính sách chống lạm phát được lựa chọn.

Nếu không nhận diện và tính đến đầy đủ các tác động ngược, hoặc hệ quả phụ của những chính sách chống lạm phát thì sẽ trực tiếp hay gián tiếp tạo ra xung lực mới cho các vòng xoáy lạm phát, đặc biệt trong các nền kinh tế chuyển đổi. Dưới đây xin đề cập đến hai lãnh vực: lãi suất và tỷ giá.

Tính hai mặt của chính sách lãi suất cao

Chính sách lãi suất thực dương là một trong những biện pháp rất quan trọng để kiềm chế lạm phát. Song cũng cần nhấn mạnh rằng, bản thân chính sách lãi suất thực dương phải được sử dụng sao cho không gây ra “phản ứng phụ”, tạo ra chiếc bẫy lạm phát trái ngược với mục tiêu ban đầu chống lạm phát của nó.

Nâng lãi suất sẽ hạn chế tiêu dùng, tăng tích trữ hàng hóa và vàng, làm tăng tiền gửi và sử dụng tiết kiệm các khoản vay, làm giảm cầu tín dụng, thu hẹp nhập khẩu. Mức lãi suất càng cao hơn mức lạm phát thì tác động tức thời của nó đến việc giảm phát càng rõ rệt. Tuy nhiên, lãi suất quá cao sẽ hạn chế đầu tư xã hội, dẫn đến tăng đình trệ suy thoái, thất nghiệp và phá sản. Ngoài ra, mức lãi suất cho vay cao “ở đầu vào” sẽ được người vay tự động chuyển vào giá cả “ở đầu ra”, làm tăng mức giá chung.

Thêm nữa, nguyên tắc thị trường đòi hỏi tiền huy động được phải sinh lợi thông qua cho vay lại hoặc đầu tư, nếu không muốn gây áp lực lạm phát tương lai bởi gánh nặng nợ lãi huy động cho ngân hàng và ngân sách nhà nước. Đặc biệt, lãi suất cao còn có thể làm gia tăng lượng cung tiền từ nước ngoài, từ đó làm tăng áp lực lạm phát tiền tệ.

Điều này càng rõ nét và nguy hiểm trong bối cảnh tự do hóa tài chính cao theo cam kết hội nhập trong các tổ chức kinh tế quốc tế (vì nếu lãi suất cao thì dòng vốn nước ngoài đổ vào gửi hoặc cho vay trong nước càng cao nhằm hưởng chênh lệch lãi suất so với thị trường lãi suất khu vực và quốc tế).

Vì thế, mức lãi suất luôn được khuyến nghị tuân theo bất phương trình sau: L1<L2<L3<L4, trong đó: L1: mức lạm phát; L2: lãi tiền gửi; L3: lãi cho vay và L4: lợi nhuận bình quân xã hội trong cùng kỳ hạn lãi suất. Nhiệm vụ của Nhà nước là lựa chọn mức “trần” lãi suất sao cho phù hợp điều kiện cụ thể và mục tiêu vĩ mô về kinh tế – xã hội của mình.

Đồng thời, phải có những biện pháp khắc phục hậu quả của nâng cao lãi suất, nếu không sẽ vấp phải vòng xoáy mới của lạm phát; khi lãi suất hạ xuống làm mở rộng tín dụng, tăng cung tiền tệ và tăng thêm sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán tùy theo mức độ phản ứng của các tác nhân kinh tế.

Tính hai mặt của chính sách thắt chặt hoặc nới lỏng tài chính – tiền tệ

Tăng chi ngân sách là một yếu tố giúp tăng GDP. Tăng thu ngân sách qua tăng thuế đến chừng mực nào đó, có thể làm tăng GDP, do tạo cơ hội tăng chi ngân sách. Tuy nhiên, nếu lạm dụng công cụ thuế sẽ làm giảm GDP và tăng lạm phát. Tăng thuế là biện pháp mà chính phủ các nước chuyển đổi thường áp dụng để bù đắp thiếu hụt ngân sách và đáp ứng các khoản chi không ngừng tăng do yêu cầu to lớn của chuyển đổi.

Tuy nhiên, những khoản tăng thuế này lại được người kinh doanh chuyển trả vào giá hàng hóa và dịch vụ do họ cung cấp; do đó, một mặt, làm tăng giá cả thị trường, trực tiếp dẫn tới lạm phát; mặt khác, làm giảm sức cạnh tranh, giảm sức tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước, giảm lợi nhuận, giảm sản xuất – kinh doanh, kết cục giảm nguồn thu ngân sách tương lai. Vòng luẩn quẩn cứ vậy mà tiếp tục.

“Thắt chặt” hay “nới lỏng” chính sách tài chính tiền tệ – tín dụng đến đâu, là tùy tình hình và mục tiêu chiến lược cũng như giải pháp tình thế cụ thể, song tốt nhất là không tạo ra kích thích tăng trưởng kinh tế “quá nóng” hoặc “làm lạnh” và kìm hãm sự phát triển nền kinh tế dưới mức tiềm năng.

Ngoài ra còn phải kể đến thực tế là, công tác thu thuế càng kém hoàn thiện và mức thuế thu càng cao, càng phức tạp thì tình trạng thất thu thuế càng tăng. Tình trạng nợ đọng thuế của xí nghiệp quốc doanh với ngân sách nhà nước, nợ “khoanh”, nợ khó đòi, chiếm dụng vốn trái phép giữa các xí nghiệp quốc doanh với nhau đang trở thành hiện tượng phổ biến trong giai đoạn đầu chuyển đổi cơ chế và được coi là một dạng trợ cấp “mềm”, một biến tướng của trợ cấp tín dụng lãi suất thấp hoặc bao cấp về vốn trước đây.

Tình trạng này không chỉ làm căng thẳng thêm nguồn thu ngân sách, mà còn làm méo mó các quan hệ kinh tế thị trường, cũng như tạo ra nguy cơ lạm phát tiềm tàng, bởi những chấn động mạnh của tình trạng đổ vỡ về mất khả năng thanh toán và vỡ nợ dây chuyền trong tương lai.

Nguồn thu ngân sách nhà nước hạn hẹp, tăng chậm so với nhu cầu chi, do yêu cầu thắt chặt tiền tệ không được phép phát hành bù đắp thiếu hụt ngân sách để chống lạm phát tiền tệ, đã buộc Chính phủ phải tăng vay nợ trong và ngoài nước hoặc phải cắt giảm chi, thậm chí “nợ chi”, trong đó có cả lương công chức, các khoản chi bảo đảm xã hội và chi đầu tư phát triển.

Những giải pháp buộc phải lựa chọn này đều ít nhiều bao hàm trong nó sự đồng nghĩa với tích tụ và làm tăng thêm những thế năng lạm phát trong tương lai, mà hiện tại được báo trước bằng sự thu hẹp cầu, giảm sức mua thị trường trong nước, sự trì trệ trong đầu tư đang trực tiếp dẫn đến suy thoái kinh tế và sự gia tăng bất ổn xã hội.

Yêu cầu thắt chặt tiền tệ, thắt chặt tín dụng, chống lạm phát còn đòi hỏi phải khống chế hạn mức tín dụng và tăng dự trữ của các ngân hàng thương mại. Điều này khiến các ngân hàng vừa buộc phải từ chối huy động tiền, hoặc đánh tụt lãi suất huy động trên thị trường xã hội, vừa phải nâng lãi suất cho vay để bảo đảm mức doanh lợi của mình. Hơn nữa trong điều kiện chưa phát triển các định chế tài chính phi ngân hàng để bổ sung các kênh truyền vốn cho nền kinh tế xã hội, và chưa hoàn thiện các khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, thì tình trạng đã nêu trên sẽ làm gia tăng cơn khát vốn đầu tư xã hội, nhất là những nhu cầu vốn to lớn để chuyển đổi cơ cấu và phát triển hạ tầng.

Trạng thái khát vốn này diễn ra như một nghịch lý: con bệnh chịu khát trong khi ngồi bên bờ dòng suối vốn bị tù hãm, che khuất. Việc thiếu sự khai thông các nguồn đầu tư xã hội cho phát triển (cả vốn trong nước và vốn bên ngoài đổ vào) bù đắp những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ tạo ra tình cảnh một nền kinh tế vừa lạm phát do khan hiếm, vừa đình trệ, hoặc một xã hội tiêu dùng sớm, lãng phí các nguồn lực, nhất là các nguồn lực trong nước. Điều đó có nghĩa là cội nguồn của lạm phát tương lai vẫn chưa được triệt bỏ.

Thành thử, “thắt chặt” hay “nới lỏng” chính sách tài chính tiền tệ – tín dụng đến đâu, là tùy tình hình và mục tiêu chiến lược cũng như giải pháp tình thế cụ thể, song tốt nhất là không tạo ra kích thích tăng trưởng kinh tế “quá nóng” hoặc “làm lạnh” và kìm hãm sự phát triển nền kinh tế dưới mức tiềm năng.

Kiểm soát lạm phát và duy trì hệ thống tài chính lành mạnh phải là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ và tài chính quốc gia. Đồng thời, kinh nghiệm thực tế đã cho thấy, nói chung quốc gia nào có ngân hàng trung ương càng chủ động và độc lập thực hiện nhiệm vụ cơ bản là giữ ổn định giá trị đồng tiền, thì lạm phát ở đó càng thấp (do hạn chế được những chi phối của giới chính trị vì các mục tiêu ngắn hạn, thậm chí có tính phe phái, vụ lợi…).

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới