Thứ Ba, 25/06/2024, 13:33
27.6 C
Ho Chi Minh City

Thu 226 triệu đô la/năm nếu đầu tư đúng!

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Thu 226 triệu đô la/năm nếu đầu tư đúng!

Hồ Hùng

Thói quen phơi lúa trên đường giao thông khiến cho lúc bị lẫn nhiều tạp chất, nấm mốc… và bị giảm giá trị. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG) – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) đang xây dựng đề án áp dụng công nghệ sau thu hoạch mới cho các sản phẩm lúa gạo để nâng cao chất lượng và giảm tiêu hao trong chế biến, chuẩn bị trình Chính phủ.

Tiến sĩ Phạm Văn Tấn, cán bộ Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, cho rằng nếu đề án này có kế hoạch đầu tư đúng cho hệ thống silo, kho chứa lúa gạo, sẽ giúp nông dân Việt Nam thu thêm ít nhất 226 triệu đô la Mỹ/năm.

Theo ông Tấn, thực ra phần lớn số tiền thu thêm không phải là nhờ giá gạo xuất khẩu sẽ tăng mà chỉ đơn giản là nhờ tận dụng những gì mà lâu nay chính nông dân và doanh nghiệp chế biến đã phung phí. “Nguyên nhân chính khiến lâu nay nông dân thiệt hại hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm là do Việt Nam chưa có đủ silo để dự trữ và bảo quản lúa để chế biến. Đồng thời, công nghệ sau thu hoạch và chế biến còn bất hợp lý, gây thiệt hại cả về số lượng lẫn chất lượng cho gạo xuất khẩu”, ông nói.

Tự làm mất giá trị

Theo nghiên cứu của Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, do không đủ khả năng tài chính để trang bị máy sấy lúa nên phần lớn nông dân phơi lúa trên sân phơi, sân công cộng, thậm chí trên đường giao thông. Do đó, lúa dễ bị lẫn các tạp chất như đất, đá, sỏi, lây nhiễm nấm mốc và thất thoát do rơi vãi hoặc do côn trùng, chim, gia súc… Khi bán cho thương lái, thường lúa chỉ đạt độ ẩm 18-25%.

Cần 480 triệu đô la Mỹ để nâng chất lượng hạt gạo

Theo đề xuất của ông Tấn, tổng chi phí đầu tư hệ thống kho chứa, máy xay xát… như sau:

– Một silo có sức chứa 10.000 tấn có giá thành xây dựng 600.000 đô la Mỹ.

– Hệ thống sấy có công suất 20-24 tấn/giờ vào khoảng 245.000 đô la Mỹ.

– Dây chuyền chế biến gạo có công suất 10-12 tấn/giờ vào khoảng 355.000 đô la Mỹ.

Như vậy, một địa điểm được đầu tư hoàn thiện tốn tổng cộng 1,2 triệu đô la Mỹ, tức cần khoảng 480 triệu đô la Mỹ cho 400 địa điểm ở vùng ĐBSCL.

Trong khi đó, hiện nay ở ĐBSCL chỉ có khoảng 0,5% các nhà máy xay xát lúa gạo của tư nhân có đầu tư thiết bị sấy lúa. Và thay vì phải sấy lúa đạt độ ẩm thích hợp mới cho xay xát thì các nhà máy lại xay xát lúa khi độ ẩm còn tới 15,5-18%. Độ ẩm cao, khiến hạt gạo dễ bị gãy vỡ, trầy xước và rạn nứt trong khi xay xát, làm giảm tỷ lệ thu hồi gạo trắng và hạt nguyên.

Sau xay xát, gạo lức có độ ẩm cao lại không được xát trắng ngay mà thường được chứa trong bao tải, để từ 1-10 ngày trong điều kiện nóng, ẩm. Kho chứa lại không thông thoáng và làm mát triệt để khiến hạt gạo bị biến màu, giảm chất lượng rất nhanh. Đồng thời, côn trùng rất dễ xâm nhập và nấm mốc cũng có điều kiện phát triển…
Trong quá trình sấy gạo trước khi xuất khẩu, hạt gạo lại bị phơi trần trong điều kiện môi trường sấy có nhiệt độ và độ ẩm không khí cao, khiến hạt gạo lại giảm thêm chất lượng. “Tất cả những yếu tố trên làm tăng thêm tổn thất cho gạo xuất khẩu”, ông Tấn khẳng định.

Thực ra, vẫn có nhiều doanh nghiệp, nhà máy xay xát tư nhân… nhận ra khiếm khuyết này, nhất là về kho chứa. Tuy nhiên, do tiềm lực tài chính và kỹ thuật chế biến, tồn trữ còn hạn chế nên tình trạng lạc hậu ấy vẫn cứ tồn tại. Một nguyên nhân khác là do các doanh nghiệp xuất khẩu gạo bị thiếu vốn hoặc kho chứa, không thể mua đủ lượng lúa, gạo đáp ứng nhu cầu. Khi có hợp đồng xuất khẩu gạo, họ mới mua lúa, gạo từ nông dân và thương lái để ồ ạt chế biến, xuất hàng, nên không thể tuân thủ các nguyên tắc sấy và xay xát giúp hạt gạo đạt chất lượng cao.

Quan trọng nhất là với cơ chế điều hành xuất khẩu gạo theo kiểu phân bổ hạn ngạch, khi xuất khi ngưng cũng khiến các doanh nghiệp ngao ngán, không chịu đầu tư công nghệ và mua sắm thiết bị mới. Do đó, thu gom từ nông dân và thương lái mỗi khi có hợp đồng vẫn là phương thức kinh doanh mà doanh nghiệp xuất khẩu gạo lựa chọn, nhằm bảo đảm an toàn, theo kiểu “nước nổi – bèo nổi”.

Tận dụng những gì lãng phí

Theo ông Tấn, ngành lương thực hoàn toàn đủ khả năng để xây dựng 400 silo chứa 4 triệu tấn lúa và đầu tư máy sấy, thiết bị xay xát hiện đại giúp nâng chất lượng hạt gạo và giảm thất thoát.

“Mỗi silo có sức chứa 10.000 tấn lúa cần khoảng 0,6 triệu đô la Mỹ. Như vậy, chỉ cần khoảng 240 triệu đô la Mỹ là đã xây dựng được 400 silo”, ông cho biết. Và theo ông, nếu đầu tư thêm máy sấy, thiết bị thích hợp thì tổng chi phí cũng chỉ ở mức 1,2 triệu đô la Mỹ để có được dây chuyền xay xát công suất 10-12 tấn/giờ, hệ thống sấy công suất 20-24 tấn/giờ và một silo tại một địa điểm. Các cơ sở chế biến hiện tại chỉ cần bổ sung thêm nhà xưởng, thiết bị… chứ không phải bỏ hẳn những công trình có sẵn, do đó sẽ tiết kiệm chi phí khá nhiều.

Ông Tấn cho rằng, khi đã có silo và dây chuyền xay xát hiện đại, những khiếm khuyết trong quá trình làm khô lúa tồn trữ và xay xát sẽ giảm nhiều. Theo đó, ngay sau khi thu hoạch, lúa phải được sấy đến độ ẩm thích hợp để bảo quản là 13-14%, sau đó nhanh chóng đưa đến nhà máy chế biến để xay xát liên tục, trong thời gian ngắn nhất.

Theo tính toán sơ bộ, tổng thất thoát về khối lượng từ lúc thu hoạch lúa đến khi có được hạt gạo trắng lâu nay vào khoảng 5-15%, chưa kể giá xuất khẩu cũng thấp do chất lượng gạo giảm sút. Do đó, căn cứ sản lượng và giá gạo xuất khẩu hiện nay, ông Tấn tính rằng, nếu đầu tư đúng cho hệ thống silo và dây chuyền xay xát để hạn chế thất thoát, giá trị hạt gạo xuất khẩu Việt Nam sẽ tăng thêm ít nhất 226 triệu đô la Mỹ/năm.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới