Chủ Nhật, 14/07/2024, 21:14
26.2 C
Ho Chi Minh City

Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quí 1

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quí 1

Xuất khẩu gạo đang “được mùa” – Ảnh: TL.

(TBKTSG Online) – Lượng gạo xuất khẩu của cả nước trong tháng 3/2011 đạt 895.614 tấn, trị giá 447,7 triệu đô la (tăng 81,1% về lượng và tăng 85,55% về trị giá so với tháng 2/2011); đưa tổng lượng gạo xuất khẩu cả quí 1 lên 1,93 triệu tấn, thu về 970,64 triệu đô la, chiếm 4,94% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước (tăng 33,77% về lượng và tăng 22,47% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2010).

Đây là tháng thứ 6 liên tục, thị trường Indonesia luôn dẫn đầu cả về lượng và kim ngạch xuất khẩu, tháng 3 này xuất sang Indonesia gần 281 nghìn tấn gạo, thu về 137,73 triệu đô la; tính chung cả 3 tháng xuất sang thị trường này 684,9 nghìn tấn gạo, trị giá 343,04 triệu đô la (chiếm 35,48% về lượng và chiếm 35,34% trị giá).

Thị trường Cuba đứng thứ 2 trong tháng với 109 nghìn tấn, trị giá 57,2 triệu đô la; tính cả 3 tháng xuất sang thị trường này 156,7 nghìn tấn gạo, trị giá 85,1 triệu đô la (chiếm 8,12% về lượng và chiếm 8,77% trị giá).

Xếp thứ 3 trong tháng là thị trường Trung Quốc với 60,6 nghìn tấn, trị giá 30,4 triệu đô la; cộng gộp cả 3 tháng là 69,9 nghìn tấn, trị giá 36,4 triệu đô la (chiếm 3,62% về lượng và chiếm 3,75% tổng trị giá).

Tính chung cả 3 tháng đầu năm 2011, có 8 thị trường xuất khẩu gạo đạt kim ngạch trên 10 triệu đô la, dẫn đầu là Indonesia 343,04 triệu đô la; tiếp đến Cuba 85,1 triệu đô la, Malaysia 60 triệu đô la; Singapore 48,66 triệu đô la; Trung Quốc 36,39 triệu đô la; Philippines 29,9 triệu đô la; Hồng Kông 20,16 triệu đô la; Đài Loan 13,17 triệu đô la.

Trong số 21 thị trường xuất khẩu gạo quí 1/2011, có 4 thị trường mới so với cùng kỳ năm ngoái là Trung Quốc, Đông Timo, Brunei, Bỉ; còn lại 17 thị trường truyền thống thì có 10 thị trường đạt mức tăng trưởng dương về kim ngạch và 7 thị trường bị sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó thị trường đột biến về mức tăng trưởng cả về lượng và kim ngạch là thị trường Indonesia tăng 5166% về lượng và tăng 4069,7% về kim ngạch; tiếp sau đó là một số thị trường cũng đạt mức tăng mạnh trên 100% về lượng và kim ngạch như: Tây Ban Nha (tăng 379% về lượng và tăng 299,4% về kim ngạch); Hồng Kông (tăng 173,05% về lượng và tăng 205,4% về kim ngạch); Australia (tăng 108,1% về lượng và tăng 113,3% về kim ngạch).

Ngược lại, xuất khẩu gạo giảm mạnh ở các thị trường sau: Philippines (giảm 93,96% về lượng và giảm 93,86% về kim ngạch), Ucraina (giảm 71,65% về lượng và giảm 69,27% về kim ngạch); Đài Loan (giảm 72,58% về lượng và giảm 67,55% về kim ngạch) và Hà Lan (giảm 60,86% về lượng và giảm 59,97% về kim ngạch).

Xuất khẩu gạo sang các thị trường quí I/2011 (Nguồn: Bộ Công Thương)

Thị trường

T3/2011

3T/2011

Tăng, giảm 3T/2011 so với cùng kỳ

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

(%)

Trị giá

(%)

Tổng cộng

895.614

447.695.478

1.930.235

970.644.060

+33,77

+22,47

Indonesia

280.925

137.726.100

684.850

343.041.425

+5166,05

+4069,71

Cu Ba

108.950

57.193.669

156.700

85.097.814

+59,82

+94,08

Malaysia

48.674

26.061.804

119.293

60.008.818

+1,96

+12,23

Singapore

49.593

24.470.474

95.775

48.662.239

+21,09

+31,97

Trung Quốc

60.647

30.378.637

69.852

36.392.254

*

*

Philippines

45.324

28.703.578

47.259

29.899.973

-93,96

-93,86

Hồng Kông

19.859

11.192.066

34.158

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới