Chủ Nhật, 16/06/2024, 07:37
26.2 C
Ho Chi Minh City

Tạo môi trường đầu tư thông thoáng bằng Nhà Nước Dịch vụ 

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Tạo môi trường đầu tư thông thoáng bằng Nhà Nước Dịch vụ 

Khai thác dầu khí – ngành công nghiệp thu hút nhiều đầu tư nước ngoài – Ảnh: báo Ảnh Việt Nam

(TBKTSG Online) – Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Mại, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư – một chuyên gia am hiểu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đã chia sẻ với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đôi điều khi nhìn lại 20 năm thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.  

TBKTSG Online: Thưa ông, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 là một trong những luật đầu tiên ra đời trong bối cảnh đất nước bắt đầu đổi mới. Nhìn lại chặng đường đã qua, ngoài thành tựu đạt được, điều gì khiến ông còn trăn trở?

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Mại: Gần đây, một tờ báo của Malaysia đã ví Việt Nam như viên nam châm tại châu Á về thu hút đầu tư nước ngoài. Theo tôi, đây là điều đáng hài lòng vì Việt Nam đã nỗ lực nhiều trong suốt 20 năm qua để được quốc tế đánh giá cao như vậy.

Tuy nhiên, môi trường đầu tư còn tồn tại nhiều vấn đề, như thủ tục hành chính rất phiền hà, mặc dù Chính phủ đã cải thiện. Vẫn còn công chức trong bộ máy Nhà nước không hiểu rằng cái chúng ta cần làm là tạo điều kiện để nhà đầu tư triển khai dự án nhanh chóng bằng các giải pháp đồng bộ, chứ không phải là tăng cường quản lý bằng cách ban hành các thủ tục gây phiền toái cho họ.

– Vốn FDI năm 2007 đạt mức kỷ lục 20,3 tỉ đô la Mỹ, nhưng thực tế tỉ lệ vốn thực hiện rất thấp so với vốn đăng ký. Làm cách nào tháo bỏ những nút cổ chai nhằm đẩy nhanh quá trình thực hiện?

Các nhà đầu tư nước ngoài nói rằng có hai vấn đề Việt Nam phải giải quyết ngay lập tức. Thứ nhất là tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề cao và đội ngũ nhà quản lý giỏi. Vấn đề thứ hai cũng hết sức quan trọng là nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở.

Nếu trong ba năm tới Việt Nam không giải quyết được tình trạng thiếu điện, mạng lưới thông tin liên lạc kém và sự quá tải của hạ tầng giao thông thì sẽ tiếp tục tồn tại một nghịch lý là vốn FDI thu hút nhiều nhưng tỉ lệ thực hiện thấp.

Theo tôi, hai yếu tố trên có tính chất quyết định tới việc thu hút FDI và Việt Nam hoàn toàn có khả năng giải quyết được. Không có lý do gì một con đường phải mất đến năm, bảy năm mới làm xong. Một con đường dài 100km chỉ nên hoàn thành trong hai, ba năm.

Nhiều nước chỉ cần ba năm để xây dựng một nhà máy điện công suất 600MGW hay 1.000MGW thì Việt Nam cũng phải làm được.

Rào cản lớn nhất với nhà đầu tư liên quan đến hạ tầng là gì, thưa ông?

Tôi xin đưa ra một ví dụ. Tôi đã làm việc với Khu Công nghệ cao TPHCM, nơi có dự án công nghệ cao lớn nhất hiện nay của Intel. Đại diện của Intel cho biết lo ngại lớn nhất là vấn đề điện, trong khi các công ty cung cấp điện của Việt Nam không dám bảo đảm với tập đoàn này về chất lượng nguồn điện.

Trên thực tế, khi xảy ra sự cố mạng cáp quang internet bị đứt năm ngoái, Intel đã rất lo lắng về việc thông tin liên lạc với quốc tế bị cắt đứt.

Ngoài ra, tình trạng ách tắc giao thông tại TPHCM cũng là trở ngại lớn cho việc sản xuất của Intel khi họ thường xuyên phải vận chuyển hàng hoá từ khu công nghệ cao ra sân bay Tân Sơn Nhất.

Ba vấn đề mà tôi vừa nêu cũng là nỗi lo lớn nhất, là rào cản với hoạt động làm ăn của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Việc giải quyết được hay không những rào cản hoàn toàn do chúng ta. Hiện nay nguyên nhân chính khiến các công ty Mỹ chưa đầu tư nhiều vào nước ta là do Việt Nam quá chậm trễ khi tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục hành chính và hạ tầng mà lẽ ra có thể giải quyết nhanh hơn.

Ông có ý kiến gì trước việc các nhà nhà đầu tư nước ngoài kêu gọi Chính phủ tạo sân chơi bình đẳng và khuyến khích họ đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng vì một mình nhà nước không có đủ nguồn lực để thực hiện tốt vai trò này?

Lời kêu gọi trên hoàn toàn đúng. Ví dụ trong lĩnh vực điện. Ngành điện đưa ra quan điểm không cho phép nhà đầu tư xây dựng các nhà máy điện theo phương thức BOT (xây dựng-vận hành-chuyển giao). Điều này là vô lý vì BOT là phương thức thích hợp nhất, quan trọng nhất cho việc phát triển các dự án cơ sở hạ tầng, trong đó có điện.

Muốn thực hiện BOT phải giải quyết hai vấn đề. Một là giá đầu vào, muốn sản xuất điện phải có than và rõ ràng giá than không thể ở mức cao như hiện nay. Trước đây đã có nhà đầu tư Mỹ muốn thực hiện những dự án điện rất lớn với công suất lên tới 650MGW, nhưng do giá than quá cao nên họ đành rút lui.

Thứ hai là giá bán điện. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) không phải bỏ vốn đầu tư để xây nhà máy điện vì đó là tiền của Nhà nước, nhưng lại độc quyền trong khâu phân phối, mua và bán điện, đặc biệt là có quyền đề ra giá bán khi bán điện đến tay người tiêu dùng.

Nhà đầu tư nước ngoài không thể tham gia vào thị trường điện khi chưa được đối xử bình đẳng.

Giá đầu vào và đầu ra trong sản xuất điện ở các nước phải do chính phủ quản lý, vì điện là mặt hàng đặc biệt và là hạ tầng cơ sở quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế.

Khái niệm “nhà nước dịch vụ” mà giáo sư đề cập tại hội nghị tổng kết 20 năm đầu tư nước ngoài gần đây đang được nhìn nhận và thực hiện ra sao?

Nhiều nước đã thay đổi khái niệm về Nhà nước, chuyển từ Nhà nước quản lý sang Nhà nước dịch vụ. Đây là quá trình chuyển đổi bắt đầu từ Nhà nước cai trị sang Nhà nước quản lý và bây giờ là Nhà nước dịch vụ.

Nhà nước dịch vụ phải đóng vai trò tạo môi trường đầu tư thông thoáng, cơ sở hạ tầng thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, và trên cơ sở một nền kinh tế phát triển mới nói đến vấn đề Nhà nước quản lý cái gì.

Xin cảm ơn giáo sư đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này. 

 THÀNH TRUNG thực hiện

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới