Chủ Nhật, 14/07/2024, 01:39
25.6 C
Ho Chi Minh City

Tạo hành lang pháp lý để ngành phần mềm “phi mã”

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Tạo hành lang pháp lý để ngành phần mềm “phi mã”

Vân Ly

(TBKTSG Online) – Theo các chuyên gia trong và ngoài nước, ngành phần mềm tại Việt Nam có năng lực, tiềm năng phát triển và có tương lai rất tươi sáng. Tuy nhiên, để đạt được điều này thì còn nhiều việc phải làm trong tạo dựng hành lang chính sách, cải thiện khuôn khổ pháp lý.

Tạo hành lang pháp lý để ngành phần mềm
Trong ảnh, nhân viên Công ty công nghệ DKT chuyên về phần mềm quản lý bán hàng đang tiếp cận khách hàng. Ảnh: Vân Ly

Tiềm năng cho phát triển phần mềm

Đó là nội dung chính của cuộc hội thảo “Xây dựng hệ sinh thái vững mạnh cho các nhà lập trình trong cách mạng công nghiệp 4.0” do Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ CNTT Việt Nam (Vinasa) phối hợp với tập đoàn Google tổ chức vào ngày 23-5 tại Hà Nội.

Tại sự kiện, ông Nguyễn Nhật Quang, Phó chủ tịch Vinasa cho biết năm 2017 doanh thu ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam đạt 8,8 tỉ đô la Mỹ. Đến nay đã có 600.000 nhân lực đang phục vụ ngành CNTT. Theo nghiên cứu mới nhất của cuộc thi phát triển phần mềm thế giới Hakathon, Việt Nam đứng thứ 23 thế giới về năng lực lập trình viên. Ấn Độ và Mỹ có số lượng tham gia cuộc thi này đông hơn nhưng thành tích lại khiêm tốn hơn Việt Nam.

Song ông Quang cho hay, mặc dù trình độ nhân lực phần mềm của Việt Nam tốt song nhiều doanh nghiệp phần mềm chọn khởi nghiệp ở bên ngoài Việt Nam như Mỹ, Singapore… điều này cho thấy hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam cho các nhà lập trình còn nhiều vấn đề cần được cải thiện, nhất là về hàng lang pháp lý.

Bình luận về năng lực nhân lực phát triển phần mềm tại Việt Nam, ông Dionisis Kolokotsas, giám đốc chương trình phát triển bền vững của Google châu Á-Thái Bình Dương cho rằng,  Việt Nam đứng thứ 23 thế giới về năng lực lập trình viên là cao nhưng vẫn cần có chính sách tốt để phát triển hơn nữa.

Còn ông Konstantin Matthies, chuyên viên tư vấn của công ty tư vấn và nghiên cứu AlphaBeta (một tổ chức có quy mô toàn cầu chuyên nghiên cứu và tư vấn về chính sách) cho hay thị trường phần mềm ứng dụng của Việt Nam ước tính đạt doanh thu 500 triệu đô la Mỹ. Vị chuyên gia này dẫn chứng những con số đáng chú ý: có 7% các nhà phát triển ứng dụng hàng đầu tại châu Á đến từ Việt Nam vào năm 2014; số lượng điện thoại thông minh tại Việt Nam sẽ đạt 38 triệu vào năm 2020.

Còn ông Đào Đình Khả, Vụ trưởng Vụ CNTT, Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết trong ngành CNTT Việt Nam thì lĩnh vực phần mềm là "xương sống". Bởi doanh thu từ lĩnh vực phần cứng chủ yếu đến từ sự đóng góp của các nhà sản xuất nước ngoài. Trong khi đó, nỗ lực của các doanh nghiệp phần mềm trong nước đã được ghi nhận qua việc phần mềm Việt Nam đã có tên trên bản đồ thế giới.

Bà Ngân Lê, một nhà phát triển phần mềm, cho biết cộng đồng nhà phát triển của Google tại Việt Nam được đánh giá là có sự phát triển mạnh trong số 100 cộng đồng trên thế giới. Phần lớn trong số họ là các nhà phát triển phần mềm độc lập, nhóm công ty nhỏ phát triển ra những sản phẩm lớn với nhiều người dùng.

“Tốc độ tăng trưởng về số lượng các nhà phát triển phần mềm tại Việt Nam rất nhanh. Năm 2010, cộng đồng nhà phát triển TechStarup mới được xây dựng tại Việt Nam với quy mô nhỏ nhưng thì nay có tơi 10.000 công ty”, bà Ngân Lê dẫn chứng.

Còn nhiều bất cập

Bà Ngân Lê cũng cho biết bà đã từng gặp những người đại diện của hàng ngàn công ty khởi nghiệp trên cả nước. Và khi làm việc thì họ thường phàn nàn về giấy phép. Giấy phép mở công ty tại Việt Nam thì nhanh nhưng giấy phép để được hoạt động trong lĩnh vực sản xuất trò chơi lại khó, khó khăn trong việc mất thời gian xin giấy phép phát hành trò chơi…

“Trong khi ngành phát triển trò chơi đóng góp vào kinh tế số rất lớn tại cả Việt Nam và thế giới. Thì các công ty phát triển trò chơi ở Việt Nam lại không dám ra mặt vì sợ trục trặc. Trường hợp của Nguyễn Hà Đông với trò chơi Flappy Bird là một ví dụ điển hình. Chủ nhân trò chơi này cũng muốn làm công ty về phát triển trò chơi nhưng vì có nhiều chính sách chồng chéo về quản lý nên lại ngại.”

Ông George Nguyễn, người đã làm trong các công ty công nghệ tại Việt Nam 15 năm và hiện ông đang điều hành công ty luật để hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp về thủ tục chính sách, cho biết trong quá trình tư vấn cho các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thì khó khăn họ gặp phải là Việt Nam chưa có khuôn khổ cho doanh nghiệp khởi nghiệp mà coi như những doanh nghiệp vừa và nhỏ bình thường. Khi nhà đầu tư rót vốn vào và sau đó thoái vốn khỏi các công ty khởi nghiệp thì Việt Nam thu của họ 20% (thuế), trong khi các nước khác lại hỗ trợ mạnh cho mảng này. Khi các nước có lối thoát cho nhà đầu tư thì họ mới dám mạnh dạn đầu tư. Việc thoái vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam thường mất tới một năm (phải trình giấy tờ ở nhiều bộ ban ngành, đơn vị…), trong khi đó tại Singapore chỉ cần khoảng một tuần.

“Theo Nghị định 38 vừa được ban hành đã có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp nhưng cũng không cụ thể”, ông George Nguyễn nói.

Một trở ngại khác cho hoạt động khởi nghiệp là gọi vốn cộng đồng. Ở các nước phát triển, có nhiều tổ chức được cơ quan nhà nước đứng ra kiểm duyệt, gọi vốn đầu tư sản phẩm tương lai. Việc gọi vốn cộng động này sẽ dễ hơn là đi gọi vốn từ quỹ đầu tư và mất ít thời gian hơn, trong khi doanh nghiệp khởi nghiệp lại cần vốn nhanh chóng. Trong khi tại Việt Nam không có định nghĩa gọi vốn cộng đồng. Tại Việt Nam gọi vốn cộng đồng coi như hình thức IPO (phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu). Mà để công ty IPO được rất vất vả và khó khăn, ngay cả với các công ty lớn cần khá nhiều năm. Như vậy bài toán gọi vốn cộng đồng trong lĩnh vực khởi nghiệp tại Việt Nam là chưa có lời giải.

Ông Đào Đình Khả của Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng, Việt Nam đã có một số chính sách ưu đãi đối với những sản phẩm CNTT trọng điểm như: được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp…nhưng việc cộng đồng chưa hài long với chính sách cũng là cách làm cho mọi việc tốt hơn.

Tại hội thảo, ông Nguyễn Nhật Quang mong Chính phủ sẽ xây dựng cơ chế thuận lợi để các nhà phát triển phần mềm cũng như ngành phần mềm tại Việt Nam có cơ hội phát triển hơn. Ông cho rằng Việt Nam có nhiều tài năng trong lĩnh vực phát triển phần mềm nhưng cũng cần có cơ chế để thúc đẩy các tài năng này.

Còn ông Konstantin Matthies từ AlphaBeta nhìn nhận ngành công nghiệp phần mềm cũng như các nhà phát triển phần mềm của Việt Nam sẽ có tương lai tươi sáng. Nhưng Việt Nam cần cải thiện khuôn khổ pháp lý hỗ trợ các nhà phát triển cũng nhưng các nhà đầu tư.

“Kinh tế số đem lại cơ hội lớn cho các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Song Việt Nam phải cải thiện rất nhiều về chính sách để xây dựng một hệ sinh thái vững mạnh cho các nhà lập trình, cần tập trung nuôi dưỡng tài năng số và xây dựng môi trường thúc đẩy đầu tư công nghệ. Để hệ sinh thái các nhà lập trình cũng như ngành phần mềm phát triển thì có nhiều yếu tố quan trọng. Sau lĩnh vực nhân lực là môi trường đầu tư công nghệ, phương pháp tính thuế, hệ thống pháp lý…,” ông  Konstantin Matthies nói.

Mời xem thêm: 

Việt Nam đứng thứ 6 về gia công phần mềm toàn cầu

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới