Thứ Năm, 18/07/2024, 12:46
30 C
Ho Chi Minh City

Suy nghĩ cùng nông dân

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Suy nghĩ cùng nông dân

TS. Võ Hùng Dũng (*)

Công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhưng thu nhập của phần lớn lao động nông nghiệp hiện nay còn rất thấp. Ảnh: Minh Khuê.

(TBKTSG) – Đất canh tác bị thu hẹp là hiện tượng phổ biến ở nhiều nước châu Á chứ không riêng gì Việt Nam. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu đất cho công nghiệp, giao thông, đô thị gia tăng thì đất canh tác bị thu hẹp. Từng gia đình, đất đai bị thu hẹp còn do sự phân chia cho con cái qua nhiều thế hệ.

Đất giảm, ly hương…

Trên mảnh đất nhỏ hẹp, để có nhiều thu nhập, người ta phải tính đến việc thâm canh nhiều hơn, tập trung lao động vào đó nhiều hơn. Dĩ nhiên năng suất tính trên diện tích đất cao hơn trước, nhưng tốc độ thoái hóa cũng diễn ra nhanh hơn. Phân bón, hóa chất sử dụng nhiều hơn thì mức độ ô nhiễm cũng tăng lên nhanh hơn, và người ta tìm cách rời bỏ nông thôn cũng nhiều hơn. Từ năm 2000 đến nay, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp đã giảm 18%, trong khi tỷ trọng của ngành trong GDP chỉ giảm 4%. Quá trình này ngược với diễn biến của 10 năm trước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm tăng năng suất lao động trong nông nghiệp. Từ năm 2001-2010, năng suất lao động nông nghiệp tăng trung bình 3,8%/năm, cao hơn nhiều so với con số 2,6% của 10 năm trước.

Trong khi đó, sự lớn mạnh của khu vực công nghiệp, dịch vụ đã thu hút một lực lượng lớn lao động từ nông nghiệp chuyển sang. Nhưng sự thay đổi này cũng đã mang đi lực lượng thanh niên trẻ khỏe, có trình độ văn hóa rời bỏ khu vực nông nghiệp, nông thôn. Càng về sau này, sự di chuyển lao động ra khỏi nông nghiệp, nông thôn không còn chỉ là tìm kiếm công ăn việc làm, mà vì nhiều lý do khác như lập gia đình, không muốn sống ở nơi đồng ruộng… Điều này sẽ làm thay đổi rất mạnh kết cấu dân số, lao động ở nông thôn và trong nông nghiệp.

Số lao động còn lại phần lớn sẽ là người già và những người tuy còn trẻ, nhưng vì nhiều lý do không thể ra đi được, tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới năng suất. Lao động nông nghiệp thật ra là loại lao động nặng nhọc và nguy hiểm, nên với số lao động còn lại như vậy, nông nghiệp và nông thôn sẽ đứng trước những khó khăn lớn.

Cấu trúc xã hội nông thôn đang thay đổi. Hầu như gia đình nào hiện nay cũng đều có con cái hoặc người thân sinh sống, làm việc, học tập ở khu công nghiệp, đô thị. Mối liên hệ này vừa tác động đến cộng đồng mới nhập cư vào đô thị, mang lối sống từ nông thôn ra đô thị, mang tác phong nông nghiệp vào khu nhà máy. Đồng thời nó cũng chịu tác động trở lại bởi lối sống ở đô thị, văn hóa của đô thị, nhu cầu về giải trí, cuộc sống tinh thần, nhu cầu về tin tức, âm nhạc, học tập và cả các tệ nạn.

Cuộc sống yên bình của nông thôn nhiều chục năm trước đang bị xáo trộn. Nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp có thể bị xem xét lại bởi lớp thanh niên nông thôn. Sự thay đổi rất nhanh trong 10 năm gần đây và có thể còn nhanh hơn trong 10 năm tới sẽ làm thay đổi mạnh diện mạo của nông thôn. Sau 10 năm nữa, phần lớn nông thôn hiện nay sẽ không còn giống như hình ảnh nông thôn trong tâm trí của chúng ta.

Giảm nghèo đã khó, làm giàu càng khó hơn

Lao động nông nghiệp là lao động nặng nhọc. Bây giờ thì còn thêm yếu tố nguy hiểm khi phải tiếp xúc với nhiều hóa chất độc hại mà hầu như chẳng có biện pháp phòng vệ. Nếu bị bệnh bởi nhiễm hóa chất, thì những bệnh tật và cái chết lặng lẽ đó chỉ có người nông dân và gia đình họ gánh chịu. Hệ thống phúc lợi, an sinh xã hội vẫn còn rất lâu mới đến được khu vực nông thôn hay trong nông nghiệp. Nhưng người nông dân đang nỗ lực để thích ứng. Họ cần mẫn với sản xuất. Họ mong mỏi có giá cả tốt khi bán; các yếu tố đầu vào của sản xuất đừng tăng giá vùn vụt.

Điểm mấu chốt là làm tăng năng suất của lao động nông nghiệp. Nhưng bản thân nông nghiệp chưa đủ sức làm cho nông dân giàu lên mà phải có sự hỗ trợ từ các ngành khác. Đây là mối quan hệ tương tác để cùng phát triển. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã giúp làm tăng năng suất, tăng thu nhập lao động trong nông nghiệp. Quá trình này phải được tiếp tục để giảm số lao động trong nông nghiệp. Tới đây, những ngành hỗ trợ cho nông nghiệp phải được thúc đẩy nhanh để đảm nhận chức năng thay thế lao động cơ bắp. Các hoạt động dịch vụ, cung cấp thông tin, phân tích thị trường, giao thông vận tải, mạng lưới phân phối cũng phải được cải thiện để giảm chi phí, tăng tính hiệu quả của thị trường nông sản.

Một điều cần nói thêm là thu nhập tính trên đầu người lao động nông nghiệp còn rất thấp. So với mức thu nhập chung của nền kinh tế thì thu nhập của lao động nông nghiệp chỉ bằng 40%, so với khu vực II chỉ bằng 20% và khu vực III thì gần bằng 30%. Với một nửa lao động trong nông nghiệp và hai phần ba dân số sống trong vùng nông thôn, chênh lệch thu nhập như vậy cần phải tính đến trong chính sách để cải thiện đời sống nông dân.

Nông nghiệp là ngành đang có tốc độ tăng trưởng năng suất cao nhất trong các năm qua. Hiệu quả đầu tư vào nông nghiệp cũng cao hơn nhiều so các ngành khác (hệ số GDP/vốn đầu tư của khu vực I hiện nay là 3,5, của khu vực II là 1,5, của khu vực III là 1,2) nhưng tỷ lệ vốn đầu tư vào nông nghiệp là rất thấp và giảm từ nhiều năm qua. Đơn cử tỷ lệ vốn đầu tư của khu vực nhà nước vào nông nghiệp so với tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP thì năm 1995 là 12%/27,2%, năm 2000 là 12%/24,5%, năm 2005 là 7,2%/21% và năm 2009 là 5,4%/20,9%. Số liệu thống kê nhiều năm qua cho thấy khi tỷ lệ đầu tư của khu vực nhà nước vào nông nghiệp giảm thì tỷ lệ đầu tư chung của toàn xã hội trong nông nghiệp cũng giảm (13,3%, 13,8%, 7,5% và 6,3%). Hiện nay, nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào đầu tư của Nhà nước, khu vực tư nhân chưa tham gia đầu tư nhiều vào nông nghiệp.

Phát triển thị trường nông sản

Xuất khẩu được nông phẩm chỉ có thể giúp cho nông dân giảm nghèo, thoát nghèo. Tiếp tục xuất khẩu nhiều nông phẩm thô chưa chắc giúp họ cải thiện thêm cuộc sống, còn để làm giàu thì không thể chỉ dựa vào xuất khẩu nông phẩm thô.

Thực ra, xuất khẩu mới chỉ tập trung vào một số mặt hàng, nhóm hàng có quy mô lớn, nó vẫn không thể bao quát hết mọi ngõ ngách trong đời sống. Rất nhiều thứ trong đời sống hàng ngày mà nền nông nghiệp cung cấp là cho thị trường trong nước.

Phát triển được thị trường nông sản mới có thể kích thích đầu tư vào đây nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng và năng lực của các chủ thể sản xuất. Trong các yếu tố để phát triển thị trường, phải tính đến các sàn giao dịch. Có thể xem xét thành lập một số sàn giao dịch nông sản. Các sàn giao dịch ra đời kéo theo dịch vụ với các nhà cung cấp thông tin. Các thông tin phân tích thị trường trên do các sàn giao dịch cung cấp sẽ giúp cải thiện tình hình sản xuất và kinh doanh.

Phát triển thị trường trong nước còn liên quan đến quá trình đô thị hóa. Cần có nhiều hơn các đô thị ở vùng nông nghiệp, nông thôn. Không phải tất cả lao động từ nông nghiệp đều có thể chuyển đến đô thị lớn. Giá cả đắt đỏ ở các khu công nghiệp lớn, đô thị lớn cũng gây nên những khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngay những doanh nghiệp lớn hiện cũng đang tính đến việc tìm kiếm địa điểm dễ dàng cho việc tuyển dụng lao động. Hình thành các đô thị quy mô nhỏ ở vùng nông thôn là cách tiếp cận nhằm xây dựng các vùng đệm, vùng trung gian nối các đô thị lớn với vùng nông thôn.

Thể chế cho nông nghiệp phát triển

Khó khăn khi đầu tư vào nông nghiệp liên quan đến đến năm yếu tố: rủi ro cao; môi trường kinh doanh yếu kém, chi phí giao dịch cao; những hạn chế liên quan đến luật pháp như hạn điền, việc góp vốn kinh doanh trong nông nghiệp; thiếu những ngành hỗ trợ, dịch vụ hỗ trợ; chủ thể khởi sự doanh nghiệp trong nông nghiệp là các hộ kinh doanh thiếu kiến thức chung, ít hiểu biết về kinh doanh.

Thể chế cho nông nghiệp phát triển là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến luật về sở hữu đất mà còn là những yếu tố vi mô cản trở khởi sự doanh nghiệp ở nông thôn. Đăng ký kinh doanh chưa phải là cản ngại lớn nhưng tiếp cận tài chính mới là yếu tố nan giải hơn. Chi phí giao dịch cao là rào cản lớn nhất mà các doanh nghiệp trong lĩnh vực này gặp phải. Thông tin nghèo nàn, niềm tin vào việc tuân thủ hợp đồng thấp làm gia tăng chi phí tìm hiểu đối tác, chi phí thực hiện hợp đồng, tuân thủ hợp đồng…

Để cải thiện việc này thì vai trò rất lớn nằm ở chính quyền cấp tỉnh và huyện; họ phải nỗ lực nhiều hơn để môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, nhất là trong thủ tục đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ, trong cung cấp thông tin và phải hết sức khách quan khi xảy ra tranh chấp hợp đồng. Ngoài ra, cần phải có thêm nhiều chi nhánh ngân hàng cho nông thôn.

Với nông nghiệp, giá cả là động lực thúc đẩy tăng trưởng trong nhiều năm qua. Các biện pháp kiềm chế giá trong lịch sử đều đã làm suy yếu nông nghiệp. Nhưng sự nâng đỡ giá cả quá mức có thể dẫn đến sản xuất dư thừa là nguyên nhân của các đợt suy giảm sau đó. Các biện pháp trợ cấp chỉ thực hiện nhằm giảm tổn thương cho người nông dân bởi các chu kỳ kinh tế, lúc lạm phát tăng vọt. Các biện pháp trợ cấp, nếu được thực hiện như là một chính sách lâu dài, có nguy cơ làm nền nông nghiệp bị xơ cứng. Có thể giảm được nghèo, giảm được tình cảnh khó khăn tạm thời của người nông dân, nhưng để giúp họ làm giàu thì đó không phải là cách tốt.

Cần cải cách thể chế để giúp nông dân có thể tiếp cận nhiều hơn với nguồn vốn tín dụng qua hoạt động mở rộng của các ngân hàng nông nghiệp, giấy tờ sử dụng đất và tài sản khác. Điều quan trọng là hỗ trợ qua đầu tư để nông dân có được tài sản, ban đầu là các tài sản nhỏ. Có tài sản mới có thể tiếp cận vốn và hoạt động kinh doanh.

__________

(*) Giám đốc VCCI Cần Thơ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới