Thứ Bảy, 13/07/2024, 01:54
26.7 C
Ho Chi Minh City

Số DN phát triển nhanh nhưng cũng nhiều bất cập

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Số DN phát triển nhanh nhưng cũng nhiều bất cập

Thùy Dung

Số DN phát triển nhanh nhưng cũng nhiều bất cập
Lễ công bố báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012 – Ảnh: Thùy Dung

(TBKTSG Online) – Giai đoạn 2002-2012, số doanh nghiệp Việt Nam phát triển từ gần 63.000 doanh nghiệp đã tăng gần gấp 5 lần, đạt 312.600 doanh nghiệp. Tuy vậy, nhiều bất cập đã phát sinh và tồn tại trong các doanh nghiệp như hiệu quả sử dụng lao động ngày càng giảm, tốc độ chuyển dịch cơ cấu quá nhanh sang các ngành dịch vụ, khả năng tiếp cận thị trường còn quá đơn giản, thiên về giá rẻ.

Những bất cập này được nêu ra trong báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố hôm 18-4. Báo cáo do VCCI khảo sát các doanh nghiệp trong giai đoạn 2002-2012, tức là 5 năm trước và sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Bà Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký VCCI, cho biết giai đoạn 2002-2012 chứng kiến tốc độ tăng ấn tượng về số lượng các doanh nghiệp, nhất là tỷ trọng của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ ngày càng tăng cả về số lượng doanh nghiệp, số lượng lao động và nguồn vốn. Nhưng Việt Nam lại thiếu hụt lực lượng doanh nghiệp có quy mô vừa vì loại hình này chỉ chiếm khoảng 2,1% trong tổng số doanh nghiệp trên cả nước.

Chính vì vậy, bà Hằng cho rằng nền kinh tế đã thiếu vắng những doanh nghiệp vừa đủ lớn để kết nối và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nếu xét theo ngành nghề sản xuất, giai đoạn 2002-2010 đánh dấu sự phát triển ấn tượng về số lượng doanh nghiệp trong các ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 35,12%/năm. Tuy nhiên, chính điều này đã làm giảm tỷ trọng nguồn vốn đầu tư vào các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp.

Một điều đáng lưu ý là hiệu quả sử dụng lao động không những không tăng mà đang có xu hướng giảm trong giai đoạn này, và điều này được lý giải một phần là do tốc độ tăng khá nhanh của tiền lương nhưng chất lượng lao động chưa tăng tương xứng. Trong khi đó khả năng thanh toán của các doanh nghiệp cũng ở mức báo động khi mà chỉ số thanh toán hiện tại và thanh toán nhanh đều liên tục giảm, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Báo cáo năm nay còn tập trung nghiên cứu 6 lĩnh vực gồm chế biến thủy sản; sản xuất đồ uống; sản xuất cấu kiện kim loại, bán lẻ thực phẩm đồ uống; quảng cáo; giới thiệu xúc tiến thương mại (XTTM).

Theo bà Hằng, cả 6 ngành này đều có đặc điểm chung là có sự tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp, về lao động, về tài sản và về doanh thu với các mức độ khác nhau. Các doanh nghiệp trong các ngành này đều có xu hướng ngày càng thu hẹp quy mô lao động, từ 74 lao động năm 2002 xuống còn 34 lao động năm 2011, nhưng lại lớn dần về quy mô vốn, từ 23 tỉ đồng lên 47 tỉ đồng.

Tuy nhiên, bà Hằng cho hay, cả 6 ngành đều có cách tiếp cận thị trường còn đơn giản, chưa phù hợp với thị trường mục tiêu của từng lĩnh vực.

Cụ thể trong lĩnh vực thủy sản, theo bà Hằng, vấn đề lớn mà ngành chế biến thủy sản phải đối mặt là sự phân tán sức cạnh tranh đang diễn ra rất nhanh và chủ yếu canh tranh bằng giá. Đơn cử như thị trường tôm, theo nghiên cứu 20 doanh nghiệp đứng đầu Việt Nam, độ phân tán tăng mạnh từ năm 2006 đến năm 2010. Sự thu hẹp của các doanh nghiệp trong ngành này khá mạnh, chủ yếu do các doanh nghiệp mới nhảy vào cạnh tranh về giá. Đáng chú ý là công cụ cạnh tranh về giá đang khiến ngành thủy sản luôn nằm trong nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, giảm sự phát triển bền vững của ngành.

Trong khi đó, một điểm chung khác trong cả 6 ngành là năng lực sử dụng vốn đều có xu hướng giảm, trong đó, giảm mạnh nhất trong 2 ngành bán lẻ thực phẩm đồ uống và quảng cáo. Đây là một thực trạng đáng báo động về hiệu quả sử dụng vốn ở các doanh nghiệp trong thời gian qua.

Hơn nữa, tỷ lệ các doanh nghiệp thua lỗ trong cả 6 ngành đều tăng mạnh trong năm 2011, nhất là trong 3 ngành thương mại dịch vụ. Hai ngành giới thiệu XTTM và sản xuất cấu kiện kim loại có hiệu suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) giảm trong giai đoạn 2007-2011. Ngành sản xuất cấu kiện kim loại không những có ROA giảm mà còn là ngành có ROA thấp nhất trong 6 ngành nghiên cứu, chỉ đạt 2,8%.

Ngành có ROA cao nhất là ngành chế biến thủy sản 8%, tiếp đến là quảng cáo và giới thiệu XTTM, khoảng 6%.

Cũng tại buổi công bố báo cáo, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay các doanh nghiệp Việt Nam đang bước vào một cuộc chơi mới. Một mặt phải thực hiện cam kết đã có với WTO và các tổ chức khác đã tham gia, mặt khác cộng đồng kinh tế ASEAN đang đẩy nhanh tiến độ để hình thành đầy đủ vào năm 2015.

Một vài năm gần đây các doanh nghiệp ASEAN đang "đổ bộ" vào Việt Nam, nhất là từ năm ngoái tới nay để chuẩn bị cho mốc năm 2015 với mức độ tham gia sâu rộng hơn. Cũng trong năm 2015, Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ được thực hiện đầy đủ và đến năm 2018, thuế của Việt Nam áp cho các sản phẩm nhập khẩu từ Trung quốc sẽ xuống rất thấp và đây là thách thức lớn khi hàng hóa Việt Nam đang bị cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nhập từ Trung Quốc.

Chính vì vậy, theo bà Lan, nếu các doanh nghiệp Việt Nam vẫn giữ lối tiếp cận thị trường theo hướng cạnh tranh về giá rẻ thì đến thời điểm năm 2015 sẽ khó có thể tiếp tục được.

Theo bà Lan, ngoài tái cơ cấu nền kinh tế thì các doanh nghiệp nên tự tái cơ cấu để có thể tham gia hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới