Thứ Hai, 17/06/2024, 07:10
27.8 C
Ho Chi Minh City

Sân gôn, thủy điện và bài toán quy hoạch

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Sân gôn, thủy điện và bài toán quy hoạch

Hồ thủy điện sông Hinh – Ảnh: baophuyen.com.vn

(TBKTSG Online) – Câu chuyện bùng phát đầu tư sân gôn và việc phát triển hàng loạt dự án thủy điện là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau nhưng cùng đặt ra những băn khoăn về bài toán quy hoạch các dự án đầu tư phù hợp cho việc phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương. 

80 dự án thủy điện đang được đầu tư ở tỉnh Kontum, 57 dự án khác ở tỉnh Quảng Ngãi và 64 dự án đăng ký ở tỉnh Đắc Nông. Các dự án đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ đang được thi công đồng loạt ở miền Trung và Tây Nguyên khiến người ta liên tưởng đến câu chuyện 13 dự án sân gôn xin cấp giấy phép ở tỉnh Long An mà công luận đã đề cập trước đó. Không thể so sánh các dự án thủy điện với dự án sân gôn nhưng bài toán quy hoạch đất đai dường như đang bộc lộ những bất cập.

Cảnh báo về phát triển thủy điện hàng loạt

Báo cáo thường niên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết tính đến hết năm 2006, 39% trong tổng số các nguồn phát điện ở Việt Nam hiện nay là thủy điện. Đây là nguồn phát điện lớn nhất nếu đem so với 37% nguồn chạy khí gas, 5% nguồn chạy dầu, 3% từ diesel, 11% từ nhiệt đện và 5% khác từ hơi nước chạy dầu. Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia đến năm 2020 (gọi tắt là tổng sơ đồ VI), thủy điện vẫn sẽ tiếp tục giữ đến 62% nguồn cung cho ngành năng lượng quốc gia.

Các chuyên gia nước ngoài của Ban thư ký Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (gọi tắt là UNCTAD) trong một báo cáo riêng về ngành điện ở Việt Nam (trình bày tại Hà Nội tháng 12-2007) đã nói rõ: “Thủy điện là nguồn phát điện chủ yếu ở Việt Nam nhưng lại chịu nhiều rủi ro về thủy năng”.

Các chuyên gia của Đại học Harvard cũng có một nhận xét tương tự trong một báo cáo khác gợi ý cho Việt Nam về phát triển kinh tế – xã hội (2011-2020) rằng ngành điện ở Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào thủy điện và khuyến cáo rằng đó không phải là tính toán đúng vì Việt Nam không kiểm soát được lưu lượng nước ở thượng nguồn để phục vụ nguồn cung ứng này. Những nhận định đó càng làm dấy lên e ngại của dư luận về việc Việt Nam có nên tiếp tục phát triển thủy điện bằng mọi giá mà thiếu tính toán đầy đủ đến các yếu tố tác động, trong điều kiện thiếu hụt điện năng dự kiến còn kéo dài 12 năm nữa.

Giải thích về việc thiếu điện mùa khô năm 2008, một trong những lý do mà EVN đưa ra là ba hồ thuỷ điện lớn nhất hiện nay ở nước ta là Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang phải thực hiện ba đợt xả nước để phục vụ đổ ải cho vụ lúa đông xuân khu vực đồng bằng và trung du Bắc bộ. Tính riêng lưu lượng xả 2/3 hồ là Hoà Bình và Thác Bà khoảng 2,2 tỉ m3 nước đã làm thiếu hụt tương đương 430 triệu kWh điện (nguồn: thông báo số 1587 của EVN ngày 8-4-2008). Những thiếu sót trong khâu tính toán về nguồn nước ở hai nhà máy thủy điện lớn nêu trên đã cho thấy sự lúng túng của EVN – đơn vị chiếm thị phần lớn trong  lĩnh vực sản xuất điện và độc quyền toàn bộ trong lĩnh vực chuyển tải cũng như phân phối điện, dẫn đến việc thiếu hụt điện năng lớn. 

Nếu tính rộng ra tất cả  nhà máy thủy điện hiện đang là nguồn phát trên chín lưu vực sông chính từ Bắc vào Nam thì các số liệu tính toán dựa trên công suất, kế hoạch và số liệu thực tế sản xuất còn xa nhau hơn nữa, nghĩa là việc thiếu hụt điện năng nhiều hơn. Đơn giản vì nguồn nước ở các sông lớn mùa khô còn cạn kiệt, lấy đâu ra nguồn cho ở các sông nhỏ hay suối để chạy các tổ máy phát điện.

Mặc dù đã có những rủi ro diễn ra trong thực tế và các chuyên gia trong và ngoài nước đã đưa ra hàng loạt cảnh báo về phát triển thủy điện ồ ạt, nhưng phê duyệt quy hoach phát triển ngành điện đến năm 2020 vẫn dành cho thuỷ điện 62% thị phần phát điện. Điều này có lẽ không phù hợp nếu đem cân đối để giảm thiếu rủi ro bằng cách đưa ra những điều chỉnh phù hợp về các nguồn phát điện, đẩy mạnh hơn nữa các nguồn nhiệt điện khí, đẩy mạnh xây dựng nhiệt điện than và các nguồn từ điện gió, điện mặt trời, thậm chí có tính đến dự án nhà máy điện hạt nhân.

Quá nhiều dự án điện nhỏ, lẻ

Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam Trần Viết Ngãi khẳng định rằng các dự án thủy điện quy mô lớn hiện đã được đăng ký hết. Nếu dựa theo quy hoạch từ nay đến năm 2020 còn 66 dự án lớn (quy mô từ 54MW đến 2.400 MW) đã và đang tiếp tục được đầu tư, có lẽ ngành thủy điện đã hoàn thành rất xuất sắc vai trò tận dụng tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra điện năng cho đất nước. Nhưng bài toán phân cấp quản lý xuống địa phương (đối với các dự án quy mô dưới 30MW trở xuống) có vẻ đã không cho phép thủy điện dừng lại.

Quy hoạch tổng thể ngành điện từ nay đến 2020 chỉ tính đến công suất dự kiến hàng năm từ các nguồn thủy điện nhỏ và thủy điện tái tạo, không cần tính đến số lượng các dự án cụ thể. Vì vậy, con số 80 dự án (công suất vài MW một dự án) ở Kontum, 57 dự án ở Quảng Nam và 64 dự án ở Đắc Nông là bài toán của chính quyền các địa phương, thay vì dựa trên tính toán tổng thể của toàn bộ hệ thống thủy điện cả nước. Nó tương tự như bài toán về việc cấp phép đầu tư 13 dự án sân gôn ở tỉnh Long An hoặc 20 dự án sân gôn khác xin được chấp thuận đầu tư ở Hòa Bình.

Theo khuyến cáo của UNCTAD, không phản đối các dự án đầu tư thuỷ điện nhỏ nếu theo “quy hoạch bậc thang”, các dự án này đáp ứng được yêu cầu về nguồn cung nước, đặc biệt về mùa khô. Nhưng để tiếp cận được với chương trình phát triển thủy điện một cách ít tốn kém nhất, cần phải có những dữ liệu về chi phí ở cấp độ nghiên cứu khả thi liên quan đến tất cả các nhà máy phát điện tiềm năng, từ đó suy ra được hiệu quả cụ thể cho từng dự án thủy điện. Ví dụ, việc thu thập những dữ liệu về địa chấn luôn kèm theo hạng mục về khoan thăm dò địa chất rất tốn kém. Các dữ liệu về khí tượng thủy văn được thu thập trong một giai đoạn dài cũng là dữ liệu cần thiết để xác định sản lượng tối thiểu và khả thi cho nhà máy.

“Nhưng không có nhà đầu tư nào tính toán và tìm nguồn vốn cho các nghiên cứu khả thi này để đưa vào dự án đầu tư. Các tỉnh cũng không đòi hỏi các chứng cớ khoa học đó nên chấp thuận phê duyệt dự án một cách khá dễ dàng,” ông Ngãi nói.

Suy ra, trên cái nền sẵn có (nhưng chưa phải là tối ưu) về quy hoạch ngành điện quốc gia, với rất nhiều khuyến cáo của các chuyên gia trong và ngoài nước, mà Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có thời gian và kế hoạch cụ thể để rà soát các quy hoạch thủy điện để điều chỉnh hoặc bổ sung kịp thời, e rằng còn nhiều chuyện để nói.

NGỌC LAN

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới