Thứ Ba, 25/06/2024, 03:54
26.7 C
Ho Chi Minh City

Quan ngại lãi suất

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Quan ngại lãi suất

Thỏa thuận của các thành viên Hiệp hội Ngân hàng về trần lãi suất đang có nguy cơ bị phá vỡ.

(TBKTSG) – Thỏa thuận của các thành viên Hiệp hội Ngân hàng về trần lãi suất huy động tiền đồng 11%/năm, đô la Mỹ 6%/năm đang có nguy cơ bị phá vỡ trong những ngày tới khi nhiều ngân hàng cho biết vốn huy động của họ không tăng, trong khi việc thu nợ các khoản vay đến hạn khó khăn.

Theo các ngân hàng, việc thu nợ gặp khó khăn là do khách hàng muốn được vay tiếp mà không chịu trả nợ gốc.

Hơn nữa, Chính phủ vừa có chủ trương không duy trì việc quy định lãi suất trần.

Lãi suất vuột khỏi tay NHNN

Theo ông Nguyễn Hữu Từ, Vụ Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng, tăng trưởng vốn huy động của toàn hệ thống ngân hàng quí 1-2008 so với tháng 12-2007 chỉ đạt 5,48% trong khi dư nợ tín dụng tăng 10,8%.

Trước đó vào quí 1-2007, hai con số này lần lượt là 11,76% và 6,4%. Sự mất cân đối giữa tăng trưởng vốn huy động và cho vay đang phình ra. Việc hạ trần lãi suất tiền gửi dù chỉ 1 điểm phần trăm/năm (từ 12% xuống 11%/năm), nhưng đã khiến tiền từ lưu thông không chọn két sắt ngân hàng để vào. Khách hàng hoặc gửi ở ngân hàng quốc doanh vì lãi suất ở đâu cũng thế, hoặc mua vàng tích trữ. “Nếu vốn huy động trong tuần này không tăng, chúng tôi buộc lòng phải tăng lãi suất tiết kiệm” – tổng giám đốc một ngân hàng nói.

Thực ra những thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng về trần lãi suất là không bắt buộc, chỉ mang tính tự nguyện. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã không có một văn bản chính thức nào quy định trần lãi suất tiền gửi ở các ngân hàng trừ Công điện 02 mà hiệu lực thi hành từ ngày nào không thấy chỉ dẫn. Chính sự ràng buộc thiếu tính pháp lý này khiến các ngân hàng dễ dàng vượt rào.

Nhìn rộng ra, không chỉ lãi suất huy động, mà ngay cả lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu – những công cụ mà nếu được sử dụng linh hoạt sẽ vô cùng hiệu quả trong điều hành tiền tệ – cũng không được NHNN dùng thường xuyên. Nói chính xác là các loại lãi suất này đã vuột khỏi tay NHNN.

Suốt từ tháng 12-2005 đến cuối năm ngoái, lãi suất cơ bản đứng nguyên ở mức 8,25%/năm, lãi suất chiết khấu 4,5%/năm. Chỉ đến ngày 30-1-2008 khi cung cầu tiền đồng đã căng như dây đàn, lãi suất cơ bản mới được nâng lên 8,75%/năm, lãi suất chiết khấu 6%/năm. Hai tuần sau đó, nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản là minh chứng cho sự chậm trễ của việc điều chỉnh lãi suất này.

Ở các nước, khi muốn tăng hay giảm lãi suất thương mại, ngân hàng trung ương chỉ cần điều chỉnh lãi suất cơ bản và sau đó ấn định lãi suất chiết khấu. Họ sẽ tùy tình hình mà bơm tiền ra hay hút tiền về để đạt được lãi suất cần điều chỉnh. NHNN Việt Nam đã không tiến hành như thế.

Gần đây có những thông tin cho thấy có thể NHNN cân nhắc sẽ điều chỉnh lãi suất cơ bản để đảm bảo các ngân hàng không vi phạm Bộ luật Dân sự khi cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Theo chúng tôi đây là hướng đi đúng vì khi lãi suất cơ bản tăng lên, lãi suất huy động có thể tăng theo và tiền từ lưu thông sẽ được hút vào ngân hàng một cách mạnh mẽ. Tăng lãi suất là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để chống lạm phát bây giờ, dù mặt trái của nó là lãi suất cho vay có khả năng tăng, tác động tới sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên lãi suất đầu ra tăng là một tấm lưới sắt sàng lọc để có những dự án thực sự hiệu quả. Vấn đề là sự linh hoạt của lãi suất cơ bản, thời gian áp dụng lãi suất cao không nhất thiết phải kéo dài, có khi chỉ 3-6 tháng. Nói như ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế cao cấp UNDP, thì chính sách điều hành tiền tệ phải ít phụ thuộc hơn vào dự trữ bắt buộc và phát hành tín phiếu, mà phải tăng cường sử dụng lãi suất. “Tăng dự trữ bắt buộc là đánh thuế vào ngân hàng, làm suy yếu hệ thống ngân hàng. Thay vào đó nên cơ cấu lại NHNN để NHNN có thể kiểm soát lạm phát qua cơ chế giá, tức kiểm soát cung tiền thông qua lãi suất” – ông Jonathan Pincus nhấn mạnh.

Áp lực thanh khoản

Bỏ lãi suất huy động trần
Trong Thông báo số 91/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ (ngày 7-4-2008) nêu kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc triển khai thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng biền vững có đoạn:
Thủ tướng yêu cầu: Ngân hàng Nhà nước thực hiện các biện pháp để định hướng và ổn định lãi suất thị trường; trước mắt, không duy trì việc quy định lãi suất huy động trần; từng bước hướng tới thực hiện chính sách lãi suất thực dương theo cơ chế thị trường.

Hiện nay những ngân hàng cổ phần nhỏ và vừa lại đang đứng trước áp lực về thanh khoản. Nguyên nhân là do vốn huy động không tăng, họ phải vay liên ngân hàng để đảm bảo dự trữ bắt buộc, dự phòng rủi ro cho những khoản nợ mà khách hàng có thể chưa trả được khi đáo hạn. Một ngân hàng đã thương lượng để nâng lãi suất cho vay thêm 4-4,5 điểm phần trăm/năm cho 50% khách hàng, nhưng nếu yêu cầu trả nợ thì họ không trả.

Do vậy lãi suất qua đêm liên ngân hàng lại tăng, lên tới 16-17%/năm. NHNN tiếp tục bơm tiền ra, khoảng 5.000 tỉ đồng/ngày kỳ hạn bảy ngày, lãi suất 9%/năm. Việc bơm tiền ra kỳ hạn ngắn, như chủ trương của NHNN là để đảm bảo an toàn thanh khoản cho tổ chức tín dụng, và ngân hàng không được dùng vốn liên ngân hàng để cho vay. Tuy nhiên, thanh khoản được bù đắp bởi những khoản vay ngắn hạn dưới một tuần như vậy sẽ không bền vững và áp lực sẽ ngày một trầm trọng thêm.

Áp lực thanh khoản càng lớn, ngân hàng càng phải trông chờ vào lãi suất. Lãi suất huy động, vì thế, không theo quy luật thị trường. Ở nhiều ngân hàng hiện lãi suất tiết kiệm ngoại tệ từ 1-12 tháng đều là 6%/năm. Người gửi tiền chắc chắn sẽ chọn kỳ hạn một tháng để khỏi rủi ro, chưa kể nếu gửi tiếp lãi của tháng này sẽ được tính vào số dư gốc của tháng sau, lợi hơn gửi kỳ hạn dài. Ngân hàng cần vốn dài hạn, mà chỉ huy động được vốn ngắn hạn, với chi phí giá thành cao như dài hạn. Ngân hàng sẽ càng khó khăn một khi cơ cấu vốn huy động mang tính “ăn xổi ở thì”, không ổn định như vậy.

Cơn sốt lãi suất tháng 2-2008 là biểu hiện của sự mất thanh khoản và điều đáng quan ngại là sự mất thanh khoản đó đã diễn ra quá nhanh, nhanh hơn dự kiến khi áp dụng các biện pháp hút bớt tiền về. Sắp tới sự cải thiện thanh khoản vẫn chưa rõ ràng nếu điều hành lãi suất không theo tín hiệu thị trường.

Thiếu thanh khoản lãi suất lên, thừa vốn khả dụng lãi suất xuống, quy luật này nên là nền tảng để NHNN cân nhắc quyết định các loại lãi suất cơ bản cũng như chiết khấu. Vấn đề còn lại là khi nào những loại lãi suất trên sẽ trở thành công cụ đắc lực trong tay NHNN?

HẢI LÝ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới