Thứ Bảy, 22/06/2024, 17:33
30 C
Ho Chi Minh City

Những cuộc trở về bất đắc dĩ

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Những cuộc trở về bất đắc dĩ

Những người nhập cư bán hàng rong ở thành phố đang phải thực hiện những cuộc trở về bất đắc dĩ.

(TBKTSG) – Ai ra đi mà chả mong có ngày về, nhưng có những cuộc trở về thật buồn. Nỗi buồn chất chứa phận đời nghèo khó của những con người tha hương. Ấy là những người phụ nữ bán hàng rong.

1. Nhài lặng lẽ xếp mấy bộ quần áo nhàu nát vào chiếc va li màu đen tróc hết da rồi dùng sợi thun dài cột lại thay cho ổ khóa đã hỏng. Thêm dăm cuốn sách cũ để dành sau ba tháng hè bươn chải khu Tràng Thi – Nguyễn Xí của Hà Nội với đôi quang gánh đồng nát (ve chai) để mua sách cũ. Rồi em lầm lũi ngồi trên manh chiếu sờn trong góc nhà trọ tuềnh toàng ở bãi Phúc Tân, đôi mắt buồn xa xăm.

Nhài chờ đến giờ về quê. Lên phố, với Nhài, vậy là đã kết thúc. Cũng kết thúc luôn niềm hy vọng mới nhen nhóm ba tháng trước “lên phố dễ kiếm tiền hơn”.

Quê Nhài ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Em nghỉ học một năm trước dù học giỏi, với lý do thật buồn: nhà cạn tiền đóng tiền học. Nhà nghèo, cha mẹ quanh năm bán mặt cho đất, không cáng đáng nổi chuyện ăn học của ba đứa con nên phải đi phụ hồ, đóng gạch thuê cho người làng. Vậy mà nghèo vẫn hoàn nghèo.

Hồi tháng 5, Nhài theo chân người làng lên Hà Nội bán đồng nát. Sắm đôi quanh gánh và giắt lưng vài đồng vốn lẻ, hàng ngày em lang thang trên một trục đường cố định từ phố Tràng Thi nơi đặt Thư viện Quốc gia đến phố sách Nguyễn Xí – Đinh Liệt với một công việc cố định: mua sách báo cũ rồi bỏ mối cho điểm mua tận Ô Chợ Dừa.

Một ngày đi bộ rạc chân bằng đôi dép nhựa mòn vẹt gót mang lại cho Nhài khoảng 40.000 đồng. Trừ tiền ăn uống, thuê chỗ trọ còn bỏ ống được một nửa. Tuy nhiên, quy định cấm bán hàng rong trên 62 tuyến phố và 48 điểm di tích của Hà Nội từ ngày 1-7-2008 đã đưa những người bán rong như Nhài trở về với thực tế: thành phố không còn là chỗ cho người lao động nông thôn đổ về kiếm sống.

Có những vùng quê nghèo nằm dọc quốc lộ 1A hiện vắng vẻ đến nao lòng. Người quê thường quây quần tình làng nghĩa xóm, đi làm ruộng cũng í ới gọi nhau như đi hội, giờ có cái gì thật hiu quạnh – một nỗi trống vắng không tên.

Buổi sáng là giờ ra đồng nhưng trong xóm, ngoài làng rặt những ông bà già tất bật việc đồng áng và lũ trẻ nhỏ tung tăng chân sáo. Làng quê buồn vì vắng bóng thanh niên trai tráng, vì thiếu tiếng nói cười ấm áp của phụ nữ.

Hỏi ra mới biết họ đều đang trên đường tha phương kiếm sống, đa phần đàn ông đi làm thợ xây, đàn bà thì bán hàng rong và giúp việc nhà cho các gia đình ở Hà Nội. Những cuộc ra đi, tuy buồn, song còn niềm hy vọng về một cuộc sống bớt lam lũ cực nhọc hơn.

Giờ, những cuộc trở về còn buồn hơn, dẫu là về quê hương, được đoàn tụ với gia đình, vì là những cuộc trở về bất đắc dĩ, là dự cảm về một ngày mai khốn khó. Tôi bị ám ảnh bởi gương mặt u buồn của những người đàn bà xã Thọ Vinh, huyện Kim Động, Hưng Yên. Những gương mặt sinh ra dường như đã mang nỗi buồn tiền kiếp.

2. Người đàn bà 66 tuổi, không con, Đào Thị Bê đã năm năm trời oằn lưng gánh rau quả đi bán ở Hà Nội đặng phụ thêm nghề nuôi gà, ngan của ông chồng 72 tuổi ở quê. Giờ bà cũng theo chân “đồng nghiệp” về nhà.  

Bà kể, tuần đầu sau lệnh cấm, bà vẫn đi chợ nhưng không dám đi đường chính mà phải vào các ngõ ngách để tránh công an. Gánh hàng rong với 100 quả cau, 3 ký hành khô, 3 ký tỏi, 5 ký chanh, 1 ký ớt và 3 ký gừng trị giá 400.000 đồng đã mang lại cho bà 600.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, thu nhập đã sụt giảm đáng kể trong 20 ngày đầu tháng 7, chỉ còn chưa tới 300.000 đồng.

“Tôi tranh thủ dăm bữa đánh liều vừa bán vừa nghe ngóng nhưng rồi cũng phải về thôi chú ạ. Bán chui bán lủi như thế run lắm, nhác thấy bóng mấy chú công an là tôi tái người vì sợ. Nghề bán hàng rong lúc cười lúc khóc. Hồi còn ở Hà Nội ngày nào tôi cũng dậy từ hai giờ sáng đi chợ Long Biên mua hàng. Một ngày tất tật chỉ dám tiêu 40.000 đồng, ba bữa ăn đã mất 21.000 đồng, thuê trọ 5.000 đồng, tiền mua bao nilon, tiền gửi quang gánh… Nhà tôi trước có hai sào ruộng nhưng hai năm trước chỉ còn một sào vì đất bị thu để làm nhà máy”.

Cả làng bà Bê cùng lên phố kiếm ăn, giờ lại dắt díu nhau quay về. Hàng xóm của bà Bê, chị Nụ, có gương mặt u uất. Chồng chị vào tận miền Nam làm thuê, chị xoay sở với gánh hàng rau nuôi hai đứa con ăn học. Cuộc trở về của chị Nụ khiến hai đứa nhỏ rạng ngời, nhưng chúng đâu biết đằng sau nụ cười của mẹ là tấm lòng ngổn ngang trăm mối. 

“Ngày mai tôi cũng chưa biết làm gì để nuôi các cháu. Bố chúng đi biền biệt tận Bình Dương, vài tháng mới gửi tiền về. Làng tôi giờ đông hơn vì mọi người từ Hà Nội về, nhưng nỗi buồn dường như cũng tăng theo”.

Cái làng quê xơ xác tiêu điều ven quốc lộ 1 này đang ẩn sâu trong nỗi buồn. Nhà nọ sang thăm hỏi nhà kia nhưng người ta chỉ nhìn thật sâu vào mắt nhau mà sẻ chia. Không còn nhiều những tiếng cười rộn ràng hay câu hỏi thăm tháng này kiếm được bao nhiêu, mua sắm gì cho gia đình…

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, trong giai đoạn 2000-2007, diện tích đất trồng lúa đã giảm 361.935 héc ta, trung bình mỗi năm giảm gần 51.705 héc ta và làm giảm 400.000-500.000 tấn lúa/năm. Việc làm và đời sống của ít nhất 100.000 hộ nông dân cũng bị ảnh hưởng. 

“Đằng sau những gánh hàng rong lam lũ ấy, còn biết bao trẻ em đi học, bao người già mong ngóng”

Người nông dân, nói như Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa thuộc khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đang đối mặt với ba nguy cơ rõ rệt là mất ruộng, chán ruộng và chán quê, từ đó dẫn đến ly nông – ly hương – ly tán bất đắc dĩ. Người bán hàng rong từ thôn quê lên Hà Nội là một trong những hình ảnh của các cuộc ly nông – ly hương – ly tán ấy. Về quê, họ lại ở trong vòng luẩn quẩn của mất ruộng – chán ruộng – chán quê.

“Ứng xử với hàng rong đòi hỏi một chính sách quốc gia và một tầm nhìn vĩ mô. Đó là cơ hội sống của hàng ngàn con người từ nhiều vùng nông thôn và phụ cận, nó đòi hỏi một giải pháp ôn tồn hơn. Đằng sau những gánh hàng rong lam lũ ấy, còn biết bao trẻ em đi học, bao người già mong ngóng”, Tiến sĩ Nghĩa nói với người viết.

Nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Ngọc Trìu, một trong những người khởi xướng “khoán 10” và gắn liền với “cánh đồng năm tấn” thời ông giữ các cương vị lãnh đạo tỉnh Thái Bình và ngành nông nghiệp, thì canh cánh nỗi lo kinh tế nông thôn sẽ khó khăn nếu không có giải pháp kịp thời.

Ông nói, đất đai đồng bằng suốt chiều dài đất nước sẽ ngày càng thu hẹp diện tích để nhường chỗ cho công nghiệp và đô thị. Ông phân tích:“Chỉ còn cách “nới hai cánh” ra thôi. Chính phủ nên phát động phong trào khai mở thêm đất đai cho nông dân, một bên mở rộng lên miền núi và bên kia mở rộng ra vùng biển. Thống kê cho thấy nguồn đất từ hai “cánh gà” này đang còn hơn chục triệu héc ta nữa. Đất đó không trồng lúa được vì là đất đồi núi hoặc đất ngập mặn, nhưng lại lý tưởng cho việc mở rộng diện tích theo mô hình vườn-ao-chuồng (VAC) trong tương lai”.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên  – Môi trường Đặng Hùng Võ thì thẳng thắn: “Chúng ta tập trung quá nhiều cho đầu tư, tăng trưởng để rồi lấy đất nông nghiệp mà chưa giải quyết tốt việc ổn định cuộc sống cho nông dân bị thu hồi đất. Có sự lệch pha trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế và sử dụng đất nông nghiệp, tức là mới chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu đầu tư mà chưa chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động”.

Ông Võ cho rằng, đến lúc cần xem xét lại các chính sách cụ thể để đảm bảo cho nông dân, chủ thể của xã hội nông thôn và kinh tế nông nghiệp có chỗ đứng mới trong nền kinh tế. Giải quyết căn cơ việc bán hàng rong ở thành phố nên chăng như thế?

THÀNH TRUNG

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới