Thứ Bảy, 22/06/2024, 07:53
26.7 C
Ho Chi Minh City

Nhu cầu lớn – Đầu tư dàn trải

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Nhu cầu lớn – Đầu tư dàn trải

Các kỹ sư của Công ty CNTT Việt Ba đang lắp đặt hệ thống tạo ảnh kỹ thuật số cho máy X-quang thường quy tại bệnh viện Nhi Trung ương. Ảnh: Tuấn Hùng.

(TBVTSG) – Tại hội nghị ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngành y tế hồi tháng 2 tại Hà Nội, ông Nguyễn Long, Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam, nhận định: “Việc ứng dụng CNTT trong ngành y tế trên cả nước đã khá phổ biến nhưng chủ yếu là tự phát nên vẫn còn tản mạn. Bộ phận CNTT của văn phòng Bộ Y tế và trung tâm CNTT của các vụ thuộc bộ không có sự thống nhất về điều phối…”.

Hiện có gần 70% các sở y tế có bộ phận chuyên trách CNTT. Trong đó hơn 80% ban lãnh đạo các sở quan tâm tới CNTT. Tại các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế có tới gần 90% đơn vị có bộ phận chuyên trách và ban lãnh đạo quan tâm tới CNTT.

Giải thích về điều này, bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo CNTT trong y tế, cho biết áp lực lớn nhất của ngành là việc chữa bệnh, cứu người nên CNTT chưa được xác định là một điểm ưu tiên.

“Do đó, việc đầu tư cho CNTT còn manh mún, dàn trải. Bộ cũng đang có kế hoạch thành lập Cục CNTT trong thời gian tới để đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công nghệ.”

“Tư” tốt hơn “công”

Theo số liệu của Bộ Y tế, hiện cả nước có khoảng 1.100 bệnh viện, trong đó có hơn 30 bệnh viện trung ương, gần 400 bệnh viện tỉnh, hơn 560 bệnh viện huyện, gần 30 bệnh viện của các ngành và hơn 60 bệnh viện tư nhân.

Ông Lý Ngọc Kính, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, cho biết hiện có khoảng 80% các bệnh viện trung ương, 60% bệnh viện tỉnh, 30% bệnh viện huyện đã triển khai hoặc đang có dự án ứng dụng CNTT.

Các chức năng chính của các hệ thống phần mềm đang được sử dụng trong các bệnh viện là: quản lý bệnh nhân nội và ngoại trú; quản lý viện phí, bảo hiểm y tế, quản lý kho dược; quản lý cận lâm sàng; quản lý báo cáo thống kê…

Có nhiều bệnh viện trang bị hệ thống phần mềm chuyên dụng nhưng cũng có nhiều bệnh viện tự phát triển hệ thống phần mềm cho riêng mình. Một số ứng dụng CNTT đang được sử dụng trong bệnh viện là ứng dụng mã số mã vạch trên thẻ bệnh nhân giúp quản lý thông tin của người bệnh; hệ thống camera hội chẩn từ xa; cầu truyền hình hỗ trợ phẫu thuật từ xa…

Theo đánh giá của các chuyên gia, hiện việc ứng dụng CNTT đã khá phổ biến ở các bệnh viện, cả công và tư. Nhưng, nhờ có ý thức nhạy bén rằng CNTT sẽ là công cụ giúp tạo lợi thế cạnh tranh, thu hút khách và có cơ chế linh hoạt hơn nên các bệnh viện tư thường có mức đầu tư cho ứng dụng CNTT cao hơn các bệnh viện công. Và việc đầu tư hệ thống CNTT thường được triển khai cùng với việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức của bệnh viện.

Những vấn đề tồn tại

Cơ sở hạ tầng CNTT

Toàn bộ các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y tế có mạng kết nối Internet tốc độ cao. Bình quân mỗi mạng có 110 máy tính, 75% số cán bộ sử dụng máy tính thông thạo ; gần 60% có hệ thống e-mail riêng và gần 45% có hệ thống bảo mật, 53% có hệ thống backup dữ liệu.

Có 95% văn phòng các sở y tế có kết nối Internet tốc độ cao và hơn 60% có địa chỉ e-mail riêng, 26% có hệ thống bảo mật và 24% có hệ thống lưu trữ dữ liệu.

Trong 280 bệnh viện địa phương được điều tra có 80% bệnh viện có kết nối Intenet, ở tuyến huyện có gần 65% bệnh viện được kết nối Internet.

Phát biểu tại hội nghị, người đại diện của Bệnh viện Nhi Thanh Hóa nhận định hiện nay việc ứng dụng CNTT tại các bệnh viện đã khá tốt, song vẫn còn tình trạng “mạnh ai nấy làm”, “mỗi nơi mỗi kiểu”. Bộ Y tế cần đưa ra một chuẩn mực về đầu tư cho CNTT để các bệnh viện thực hiện, như thế mới có sự thống nhất và đồng bộ.

“Nhà nước khuyến khích đưa CNTT vào ứng dụng trong ngành y tế nhưng chúng tôi lại gặp khó khăn trong việc thanh toán với cơ quan bảo hiểm y tế ở khâu hóa đơn”, vị đại diện này cho biết. Ngoài ra, vị đại diện này còn “băn khoăn” về tính pháp lý của bệnh án điện tử, chữ ký điện tử của bác sĩ…

Tổng Thư ký Hội Tin học Việt Nam, ông Nguyễn Long, cũng cho rằng ngành y tế cần có “khung” và “chuẩn” để việc triển khai ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao nhất.

“Ngành y tế cũng cần giải quyết vấn đề pháp lý cho tính xác thực trên nền thông tin điện tử (bệnh án điện tử…), bởi với những ngành khác như ngân hàng, tài chính thì vấn đề xác thực và giao dịch còn phức tạp hơn mà vẫn có thể giải quyết được”, ông Long kiến nghị.

Ông Mai Anh, Hội Tin học – Viễn thông Hà Nội, cũng cho rằng, không có chuẩn thông tin và quy trình CNTT thì sẽ rất khó để triển khai ứng dụng có tính thống nhất. Song ông Mai Anh lại cho rằng ngành y tế không nhất thiết phải có phần mềm dùng chung.

Có cùng quan điểm này, ông Đỗ Văn Dũng, Phó hiệu trưởng Đại học Y dược TP.HCM, cho rằng trong khi xây dựng chuẩn, ngành y tế không nên chỉ định sử dụng phần mềm cụ thể để tránh độc quyền, mà chỉ nên đưa ra những tiêu chí đặc tả để các đơn vị tự xây dựng.

Bà Tiến cho biết, hiện vẫn chưa có dự án tổng thể về phát triển CNTT trong ngành y tế ở cấp quốc gia. “Hành lang pháp lý về thông tin trên mạng y tế chưa có ; thiếu các văn bản quy phạm pháp luật về ứng dụng và phát triển CNTT ; chưa xây dựng được kho cơ sở dữ liệu chung của ngành để đáp ứng nhu cầu của công tác quản lý. Cơ sở dữ liệu hiện còn phân tán và manh mún, chưa đồng bộ nên chưa phát huy được thế mạnh của CNTT để cung cấp đầy đủ dữ liệu cho việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển của ngành,” bà Tiến nói.

Tương lai sẽ tốt hơn

Báo cáo tại hội nghị, bà Tiến cho biết ứng dụng CNTT trong ngành y tế là yêu cầu bức xúc về cả chuyên môn lẫn kỹ thuật. “Ứng dụng CNTT trong ngành y tế đã được triển khai từ gần 20 năm qua. Đến nay, toàn bộ các bệnh viện đã được ứng dụng CNTT ở các mức độ khác nhau giúp giảm bớt thời gian chờ đợi của bệnh nhân ; giúp quản lý công khai và minh bạch về tài chính, thuốc và các vật tư y tế ; tránh nhầm lẫn về chuyên môn. Hầu hết các cơ sở y tế đã đưa vào sử dụng các phần mềm ứng dụng như quản lý nhân sự, vật tư-tài chính, quản lý công văn, quản lý bệnh viện, quản lý trang thiết bị y tế…,” bà Tiến cho biết.

Trong điều hành chỉ đạo, Bộ Y tế và các sở y tế tỉnh thành đều đã có trang web, có cổng thông tin điện tử để cung cấp thông tin ; giải đáp những câu hỏi cần thiết về sức khỏe cũng như quy trình cấp giấy phép cho các doanh nghiệp. Các cơ quan thuộc bộ và các sở cũng đã sử dụng phần mềm quản lý hành chính. Bà Tiến nói: “Cái được nhất trong ứng dụng CNTT trong hai năm qua trong ngành y tế là đẩy nhanh hơn công tác ứng dụng CNTT trong quản lý điều hành, giao ban điện tử, cấp giấy phép qua mạng…”

Bà Tiến cho biết có bốn cấp độ cung cấp dịch vụ công trực tuyến qua mạng là: Thông tin về quy trình và các thủ tục giấy tờ cần thiết (mức 1); Cung cấp các loại mẫu đơn, hồ sơ và thủ tục (mức 2); Điền và gửi trực tuyến các mẫu đơn, hồ sơ, xử lý và giao dịch hồ sơ qua mạng (mức 3); Thực hiện dịch vụ và trả kết quả trực tuyến (mức 4). Ngành y tế đang cố gắng từng bước cấp giấy phép qua mạng ở mức độ 1 rồi tiến tới mức độ 2 với một số dịch vụ công như cấp chứng chỉ hành nghề y dược tư nhân, cấp giấy phép nhập khẩu trang thiết bị y tế, cấp giấy phép lưu hành thuốc, mỹ phẩm.

“Ngành y tế đặt ra mục tiêu đến năm 2010 có được môi trường pháp lý căn bản phục vụ và khuyến khích ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế, bảo đảm có ít nhất 50% thông tin trao đổi, giao dịch giữa Bộ Y tế, các đơn vị tuyến trung ương và các sở y tế được thực hiện trên mạng, giảm thiểu việc sử dụng văn bản giấy tờ. Các dịch vụ hành chính công được cung cấp ở cấp độ 2 trên cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế và sở y tế ; phấn đấu sao cho 20% các dịch vụ công đó được thực hiện ở cấp độ 3,” bà Tiến cho biết.

Nhận xét về “tương lai của việc ứng dụng CNTT trong y tế”, bà Tiến cho rằng ngành y tế là ngành có nhiều lĩnh vực hoạt động có nhu cầu cao về ứng dụng CNTT như điều trị, y tế dự phòng, dược phẩm… nên nhu cầu ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ của ngành rất lớn. Ngoài ra, yêu cầu của người dân đối với các dịch vụ công trong lĩnh vực y tế là một áp lực lớn buộc ngành y tế phải ứng dụng CNTT mới có thể đáp ứng được… Đây là nhiệm vụ đặt ra khá cấp bách và cũng là động lực thúc đẩy ứng dụng CNTT trong ngành y tế.

VÂN OANH

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới