Thứ Ba, 16/07/2024, 16:02
30.6 C
Ho Chi Minh City

“Mê cung” thủ tục cản trở nhà đầu tư ngoại tham gia PPP

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

“Mê cung” thủ tục cản trở nhà đầu tư ngoại tham gia PPP

Ngô Kiếm

(TBKTSG Online) – Phần lớn các dự án đối tác công tư PPP hiện nay là của nhà đầu tư trong nước và có rất ít sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài không phải không quan tâm đến các dự án PPP tại Việt Nam, mà họ e ngại mê cung thủ tục hành chính ở Việt Nam.

Cao tốc TPHCM – Long Thành – Dầu Giây được đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP). Ảnh: Anh Quân

Vắng bóng nhà đầu tư ngoại

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2018 có 289 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trên toàn quốc với tổng số vốn 54 tỉ đô la Mỹ (trong đó có 207 dự án cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, 18 dự án năng lượng, đáng chú ý là có thêm các dự án PPP về văn hoá, giải trí).  

Còn theo số liệu tổng kết về tình hình thực hiện dự án PPP mới nhất từ Chính phủ, tính đến hết tháng 1-2019 đã có 336 dự án PPP đã ký kết hợp đồng, trong đó có 140 dự án BOT, 188 dự án BT và 8 dự án khác. Nhưng có không ít dự án gặp không ít khó khăn.

Điển hình như bài học BOT cầu Phú Mỹ – TPHCM cách đây hơn 2 năm, mà theo đánh giá của các chuyên gia, trường hợp này vừa là lỗi của nhà đầu tư vừa là lỗi của chính quyền thành phố.

Nhà nước tham gia vào giai đoạn nào, có những hỗ trợ gì hay nhà đầu tư có thể tự do ứng biến linh hoạt trong khuông khổ nào để đạt được thoả thuận chung cũng như trong quá trình thực hiện dự án… Chung quy, vẫn là muốn rạch ròi về quyền hạn của nhà nước và trách nhiệm của nhà đầu tư.

Tại hội thảo “Phòng ngừa và giải quyết tranh chấp hợp đồng đối tác công tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng: Thực tiễn Việt Nam, Kinh nghiệm quốc tế và Định hướng chính sách” mới đây, do Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cùng với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Ủy ban Trọng tài Thương mại Hàn Quốc (KCAB) tổ chức cuối tuần qua, nhiều chuyên gia kinh tế cho biết cần làm rõ ý nghĩa của PPP với hình thức đầu tư công và đầu tư tư nhân truyền thống, bởi thời gian gần đây “cuộc chơi” này mang đến khá nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp ngoài nước. 

Nhiều ý kiến cho rằng, trong bối cảnh nguồn lực của Chính phủ hay nguồn vốn ODA đang dần cạn, việc “hấp thụ” tốt nguồn lực xã hội đầu tư vào các dự án trọng điểm hàng ngàn tỉ đồng của đất nước hiện nay là phải “mở cửa” cho các nhà đầu tư ngoại để cạnh tranh lành mạnh với các nhà đầu tư trong nước.

Luật sư Trương Trọng Nghĩa, Đại biểu Quốc hội TPHCM, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, cho biết phần lớn các dự án PPP hiện nay là của nhà đầu tư trong nước và có rất ít sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến các dự án PPP tại Việt Nam.

Lý giải về tình hình trên, luật sư Nghĩa cho hay, do cơ chế cấp phép quá phức tạp khiến nhà đầu tư nước ngoài không thể và không đủ kiên nhẫn để vượt qua tất cả các “mê cung” hành chính, chính vì vậy để tham gia được, họ phải chờ tới khi nhà đầu tư trong nước đã hoàn thành các thủ tục và mua cổ phần trong dự án đã được cấp phép.

Ông Hong Sik Chung, Giáo sư luật, Đại học Chung-Ang, Hàn Quốc, cho biết kể từ năm 2010, tại Hàn Quốc các dự án PPP đã suy giảm đáng kể khi mức độ cơ sở hạ tầng đã dần trở nên hoàn thiện, nhiều nhà đầu tư cũng như người cho vay của Hàn Quốc đang tìm kiếm các cơ hội phát triển dự án PPP ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam ở các ngành: điện, sân bay, cảng, bệnh viện…

“Bên cạnh đó, các nhà đầu tư Hàn Quốc cũng rất quan tâm về rủi ro nhu cầu đầu tư, các khoản thanh toán sớm mà Chính phủ Việt Nam phải chi trả không được quy định… ví dụ như đầu tư vào đường bộ, Nhà nước muốn thu phí, nếu nhu cầu sử dụng thấp hơn dự kiến thì nhà đầu tư và bên cho vay chịu rủi ro lớn”, vị giáo sư này bàn luận.

Cần phân bổ rủi ro hợp lý

Đứng góc độ là luật pháp, ông Nghĩa cho rằng những vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài hiện đang quan tâm nhất chính là các chính sách cũng như khả năng thực thi hợp đồng và các cam kết, các cách giải quyết tranh chấp và xét xử… bên cạnh đó, nhà đầu tư ngoại quan ngại việc Việt Nam đang có quá nhiều luật và các văn bản dưới luật chồng chéo, đôi khi xây dựng và thực thi pháp luật còn dựa vào… cảm quan của cơ quan quản lý.

“Sắp tới dự thảo luật về PPP dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 8 (10-2019) sẽ đơn giản hoá các quy định pháp luật về hỗ trợ dự án PPP, bao gồm các nguyên tắc phê duyệt và quản lý các dự án… như vậy tính minh bạch và công bằng sẽ được nâng cao, đồng thời sẽ làm thay đổi tư duy nhìn nhận về cách làm dự án PPP hiện nay”, ông Nghĩa nói.

Ngoài những những rủi ro về khung pháp lý, chính sách chưa phù hợp… một dự án PPP cũng sẽ không khả thi nếu không thu hút được vốn vay cũng như huy động được dòng tiền.

Giáo sư luật Hong-sik Chung cho rằng nếu nhà đầu tư đảm bảo được các khoản vay với sự bảo trợ từ Chính phủ thì đầu tư sẽ có khả thi. Các rủi ro liên quan đến tiền tệ, vận hành, nguồn nguyên liệu, luật pháp, thể chế… nếu được phân bổ hợp lý để loại bỏ hoặc nhận biết được bên nào là bên có khả năng quản lý rủi ro đó tốt nhất thì giá trị của nhà đầu tư sẽ được tăng lên.

Lấy ví dụ từ hai dự án PPP của Việt Nam: BOT QL53 (Long Hồ – Ba Si) và BOT Mông Dương II. Trong khi dự án BOT Mông Dương II (100% vốn nước ngoài, chuyển nhượng sau 25 năm) vận hành trơn tru đến nay không có tranh chấp nhờ nhận diện tốt các rủi ro thì BOT QL53 (nhà đầu tư Việt Nam, dự kiến thời gian hoạt động trong 21 năm trước khi chuyển nhượng) đã “ngã ngựa” sau gần 3 năm khởi công do các nhà đầu tư không thành công trong việc bảo đảm các khoản vay.

Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là rất khó dự đoán chính xác dòng tiền tương lai trong 20 đến 30 năm tới khi dự án đi vào hoạt động. Nếu muốn thu hút thêm khối tư nhân vào các dự án PPP, một số chuyên gia tán thành việc Chính phủ phải chịu một số rủi ro như là sự chia sẻ để bảo đảm dự án.

Trước năm 2009, Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng bảo lãnh doanh thu tối thiểu (MRG) để đảm bảo phần chi trả thiếu hụt trong một, hai năm hoặc theo từng giai đoạn hoặc tuỳ vào từng điều kiện thực tế… ngoài Hàn Quốc, một số quốc gia khác trên thế giới cũng áp dụng tương tự.

Kể từ khi chấm dứt MRG để tái cơ cấu cân bằng lợi ích cộng đồng và nhà đầu tư, chính phủ Hàn Quốc đã liên tục nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp hơn nhằm duy trì tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư tư nhân.

“Như vậy, có thể nói rằng việc nhận diện và phân bổ rủi ro hợp lý có sự bảo trợ của Chính phủ là chìa khoá cho các nhà đầu tư vốn đang tìm cách bảo vệ khoản đầu tư của họ, đồng thời điều này sẽ đảm bảo tạo ra doanh thu đủ cao không chỉ cho nợ dịch vụ mà còn để đáp ứng lợi nhuận vốn chủ sở hữu dự kiến”, giáo sư Hong-sik Chung nhận định.


 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới