Thứ Sáu, 21/06/2024, 18:22
30.6 C
Ho Chi Minh City

Lo đào tạo nghề cho lao động nông thôn trở thành phong trào

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Lo đào tạo nghề cho lao động nông thôn trở thành phong trào

Huỳnh Kim thực hiện

Lo đào tạo nghề cho lao động nông thôn trở thành phong trào
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh.

(TBKTSG Online) – Một năm đã trôi qua với Đề án 1956 (kéo dài đến năm 2020, trị giá 32.000 tỉ đồng) về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhằm thực hiện chính sách “Tam nông”. Dịp này, TBKTSG Online đã phỏng vấn TS LÊ VĂN BẢNH, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL

TBKTSG Online: Thưa Tiến sĩ, theo ông, chính sách về “tam nông” của ta đang được quan tâm ra sao?

– TS LÊ VĂN BẢNH: Nông nghiệp, nông dân và nông thôn (tam nông) là vấn đề đang rất bức xúc, không những cho đất nước chúng ta mà còn với nhiều quốc gia trên thế giới vì khu vực này rất nhạy cảm đến ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên của một quốc gia.

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp – nông dân – nông thôn đã nhấn mạnh mục tiêu trước mắt là tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao khoa học-công nghệ tiên tiến, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; tăng cường công tác xoá đói, giảm nghèo. Phát huy thế mạnh  từng vùng, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa nông sản xuất khẩu và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Cụ thể hóa của chủ trương này là Chương trình hành động của Chính phủ được thể hiện qua Nghị quyết 24-CP về phát triển “nông nghiệp, nông dân và nông thôn”. Tiếp theo đó, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định là “Đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là mục tiêu, thách thức rất lớn mà toàn Đảng, toàn dân phải thực hiện trong nhiệm kỳ 2011 – 2015”.

Đó là chủ trương, còn trong thực tế, theo Tiến sĩ thì “tam nông” đang đối mặt với những thách thức như thế nào?

– Thực hiện được chủ trương trên thì cần phải giải quyết các vấn đề lớn mà “tam nông” của mình đang đối mặt, đó là:

Đối với nông dân: Sản xuất còn nhỏ lẻ, tỷ lệ hộ nghèo cao, kỹ thuật sản xuất thấp, thiếu tổ chức sản xuất với quy mô lớn và đầu tư vốn lớn. Nông dân là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương trong kinh tế hội nhập và tác động biến đổi khí hậu.

Đối với nông nghiệp: Hàng hoá kém chất lượng và không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, giá thành sản xuất cao và không ổn định dẫn đến khó cạnh tranh trong WTO. Đồng thời sản xuất nông nghiệp kém bền vững vì xuất khẩu tăng nhưng thu nhập nông dân thấp và môi trường bị ô nhiễm. Dịch bệnh và thiên tai thường xuyên xảy ra. Thời gian qua đầu tư cho nông nghiệp thấp, trong khi đó nông nghiệp phải đóng vai trò an ninh lương thực và ổn định kinh tế-xã hội đất nước.

Đối với nông thôn: Thiếu đầu tư cơ sở hạ tầng cho sản xuất và dân sinh. Đời sống người dân nông thôn gặp rất nhiều khó khăn về thiếu việc làm, thu nhập thấp, chăm sóc sức khoẻ kém, giáo dục còn hạn chế, suy thoái môi trường, sử dụng tài nguyên chưa hợp lý, vệ sinh và nước sạch nông thôn còn rất nhiều bất cập.

Biến đổi khí hậu và khan hiếm đất nông nghiệp: Những năm gần đây, nhiều diện tích đất sản xuất bị mất do thiếu quy hoạch và sẽ còn giảm nhiều hơn do ảnh hưởng đô thị hóa, chuyển đổi sử dụng đất không đúng mục đích trong các năm gần đây. Điều quan trọng hơn, theo dự đoán tác động biến đổi khí hậu, việc xâm nhập mặn, hạn hán và lũ lụt, mất đất nông nghiệp, giảm khả năng sản xuất nông nghiệp và thủy sản và ảnh hưởng sinh kế người dân nông thôn đã và đang xảy ra. Điều này sẽ đe dọa an ninh lương thực quốc gia, và tiềm năng sản xuất nông nghiệp và thủy sản trong tương lai.

Phải chăng từ thực tiễn này mà Đề án 1956 ra đời?

– Nghị quyết 26 của Đảng đã xác định “nông dân là chủ thể của quá trình phát triển”. Bộ Lao động – Thương binh & xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) đã đề xuất và được Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” nhằm thực hiện nhiệm vụ “xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng của nông dân, lao động nông thôn, cán bộ và cán bộ cơ sở” được nêu trong Nghị quyết số 24 của Chính phủ.

Thực tế là đại bộ phận dân nông thôn của mình gắn với sản xuất nông nghiệp nhưng năng suất chênh lệch lớn do trình độ tay nghề khác nhau giữa các hộ cùng địa phương và giữa các địa phương trong vùng. Trình độ dân trí thấp; 82% lao động nông thôn chưa qua đào tạo sơ cấp; đại đa số cán bộ cơ sở chưa được đào tạo. Nhân tố chính yếu dẫn đến thu nhập thấp và phát triển kém bền vững là do năng lực của nông dân và cán bộ địa phương chưa được nâng cao đúng mức để đáp ứng nhu cầu phát triển nông thôn theo hướng hiện đại hoá trong bối cảnh cả nước hội nhập quốc tế.

Với những thách thức lớn và biến đổi khí hậu toàn cầu đang đe dọa ngày càng trầm trọng, ta có thể giải quyết được một khi nông dân được nâng cao năng lực ứng dụng kỹ thuật canh tác nông nghiệp tiên tiến, đặc biệt là năng lực quản lý của cán bộ chính quyền địa phương. Vì nó sẽ góp phần cải thiện thu nhập cho hộ gia đình và thúc đẩy  phát triển bền vững nông nghiệp – nông thôn. Ngoài ra, nâng cao năng lực lao động nông thôn từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp luôn là việc làm tối cần thiết.

Từng là Hiệu trưởng trường dạy nghề Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam bộ thuộc Viện Lúa ĐBSCL, Tiến sĩ nhận xét kết quả thực hiện Đề án 1956 một năm qua như thế nào?

– Đề án 1956 với kinh phí 32.000 tỉ đồng đặt mục tiêu đào tạo mỗi năm 3 triêu lao động, trong đó có 1 triệu lao động nông thôn. Chủ trương của Đảng và Nhà nước rất rõ ràng, trong 1 triệu lao động nông thôn được đào tạo mỗi năm, có đào tạo nghề cho nông dân làm nông và đào tạo nghề cho nông dân chuyển đổi ngành nghề sang phi nông nghiệp, có thể “ly hương hoặc bất ly hương“.

Việc làm này, lúc khởi động Bộ LĐ-TB&XH và Tổng cục Dạy nghề làm khá bài bản. Kế hoạch là đào tạo nghề phi nông nghiệp do Tổng cục Dạy nghề đảm trách, phần dạy nghề nông nghiệp giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì. Năm 2008 có hội nghị về việc này tại Nha Trang để ký kết hợp tác và giao nhiệm vụ cho các đơn vị có liên quan. Trong đó, việc dạy nghề nông nghiệp vùng ĐBSCL giao cho Viện lúa ĐBSCL. Nhưng từ khi ký kết đến nay thì không thấy nhắc đến chuyện này nữa.

Qua 1 năm thực hiện thì Đề án 1956 lại sắp trở thành "phong trào" vì không sát thực tế và thiếu chất lượng.

Tiến sĩ có thể nói rõ hơn, vì sao như vậy?

– Trở ngại chính là do mỗi cơ quan đều thực hiện theo cách riêng, thường không đồng bộ, với cách tiếp cận “từ trên xuống” và đặc biệt là thiếu đánh giá nhu cầu của các nhóm đối tượng nông dân và cán bộ địa phương theo các tiểu vùng sinh thái và địa lý hành chính khác nhau. Do vậy đã dẫn đến tình trạng đào tạo không địa chỉ, cuối cùng người được đào tạo nghề hoặc là không kiếm được việc làm hoặc là kiếm được việc làm nhưng không đúng theo chuyên môn được đào tạo. Bên cạnh đó vẫn chưa có một trung tâm nghiên cứu dự báo, đào tạo nghề cho nông dân và cán bộ địa phương theo phương pháp mới là “lấy người học làm trung tâm”.

Vậy phải làm sao để thực hiện Đề án với nguồn kinh phí quá lớn này không bị lãng phí và đạt được hiệu quả thiết thực?

Theo tôi, phải khắc phục cho được mấy cái “thiếu” mà thực tiễn đã đặt ra trong 1 năm qua, như sau:

– Thiếu cơ sở vật chất. Bộ LĐ-TB&XH giao cho Tổng cục Dạy nghề thực hiện qua hệ thống các Sở LĐ-TB&XH vì các sở có mạng lưới các trung tâm đào tạo nghề ở các quận huyện. Nhưng ở đây, cơ sở vật chất như trang thiết bị thực tập, thực hành, đồ dùng giảng dạy thiếu thốn. Các trung tâm dạy nghề này thường có mô hình, học cụ, dạy nghề nông nghiệp nhưng chưa có nơi thực tập, thực hành như ruộng thực nghiệm, trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy  sản hoặc vườn cây ăn trái…

– Thiếu giáo viên dạy nghề chuyên nghiệp. Chưa có nơi nào đào tạo giáo viên dạy nghề chuyên sâu cho các trung tâm này. Các trường sư phạm kỹ thuật hiện có thường không cung cấp đủ giáo viện cho các trường dạy nghề chính quy. Do vậy học viên sau khi tốt nghiệp khoá học chưa đạt yêu cầu trở thành thợ chuyên môn có tay nghề vững vàng cho công việc của mình hoặc đạt chuẩn làm thuê cho các doanh nghiệp.

– Chưa khảo sát nhu cầu nghề nghiệp cho lao động nông thôn. Vì các trung tâm đào tạo có khả năng ngành gì thì chiêu sinh ngành ấy, do vậy, chưa gắn kết tốt giữa đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm.

– Thiếu liên kết vùng. Đúng ra không nên thành lập ở mỗi huyện một trung tâm đào tạo nghề mà cần có sự liên kết vùng trong đào tạo dạy nghề, cần có trung tâm đào tạo nghề chuyên nghiệp cấp vùng có chất lượng. Như trong đào tạo nghề nông nghiệp cần có trung tâm đào tạo nghề trồng lúa, trung tâm đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản, trung tâm đào tạo nghề gia súc gia cầm, trung tâm đào tạo nghề làm vườn, trồng cây cây ăn trái…. ở những tỉnh, thành có thế mạnh về sản phẩm đó. Và phải nhờ các trường đại học, các viện nghiên cứu đào tạo ra giáo viên chuyên môn, đào tạo ra “máy cái“ để được giáo viên chất lượng cao.

Tôi cũng đề nghị nên sơ kết 1 năm thực hiện đề án này để kịp thời điều chỉnh, tránh lãng phí quá lớn sắp xảy ra.

Xin cảm ơn Tiến sĩ.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới