Thứ Sáu, 14/06/2024, 02:36
30 C
Ho Chi Minh City

Lao động tự do thời mất việc

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Lao động tự do thời mất việc

Thành Trung

Người lao động ngồi chờ việc ở chợ lao động Bưởi, Hà Nội. Ảnh: Thu Phương

(TBKTSG) – Suy giảm kinh tế đang đẩy người lao động tự do tại các chợ lao động ở Hà Nội vào vòng xoáy mất việc, giảm thu nhập. Họ, những người “nhập cư” tìm việc công nhật giữa Thủ đô, đứng trước nguy cơ mất đi khoản thu nhập ít ỏi tính theo từng giờ lao động để gửi về nuôi gia đình ở quê.

>> Trăm đường thua thiệt

>> Tiếng thở dài từ xóm công nhân

Đi câu gặp bão

Suốt buổi sáng, nhóm lao động Nghệ An của Lê Văn Thắng chầu chực ngồi chờ việc mà không có khách nào kêu đi làm. Từ sau Tết đến nay, các công việc lao động giản đơn trong lĩnh vực xây dựng mà nhóm thường làm đã giảm đáng kể bởi cầu lao động tại năm chợ lao động tự do ở Hà Nội đang giảm, trong khi lực lượng lao động thời vụ từ các vùng quê vẫn đổ ra chợ tìm việc.

Nhóm của Thắng có sáu người cùng quê Nghệ An lên Hà Nội bấu víu nương tựa vào nhau mà sống. Làng của Thắng có 80-90% gia đình có người đi làm ăn xa khắp nơi, chỉ còn người già và trẻ nhỏ ở nhà. Ở chợ Bưởi, họ nhận tất cả công việc nặng nhọc nhất, không nề hà kén chọn, miễn là có việc và có tiền gửi về quê. Từ phụ hồ, đào đất, đóng cọc đến đào móng, bốc vác. “Đâu có việc là đi”, Thắng rít một hơi thuốc lào, nói.

Đã quá trưa, nhóm của Thắng vẫn ngồi ngáp vặt và mỏi mòn chờ đợi trong thời tiết nắng gắt mùa hè mà không dám chạy đi ăn suất cơm bụi 10.000 đồng, bởi có lần vừa đứng dậy đi ăn thì khách gọi, vậy là cả ngày không có việc. Thắng nói, tìm việc công nhật chả khác đi câu, may hơn khôn vì việc tìm người chứ không phải người tìm việc.

Nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam chỉ ra số công việc (giản đơn) cần thuê trong năm 2008 đã giảm đi nhiều so với năm 2007 và những năm trước đó. Sang đầu năm 2009 công việc còn tiếp tục giảm mạnh hơn nữa. Viện cho hay là những người được phỏng vấn tại các chợ lao động ở Hà Nội nói, tính trung bình họ đi làm 10 ngày/tháng.

Nếu năm 2007 trung bình một tháng một người có việc trong khoảng 7 ngày, thì năm 2008 chỉ 3-5 ngày có việc và ước tính khối lượng công việc vào tháng 2-2009 giảm tới 30% so với tháng 2-2008. “Nếu tính trung bình, ngày nọ bù ngày kia thì một ngày chỉ có khoảng 5-6 người đến thuê lao động thôi, anh ạ. Mà mỗi người cũng chỉ thuê 1-2 lao động, nên đi làm cứ như đi câu, hên xui là chính. Như em, cả tháng chỉ có 10 ngày là có việc, còn lại ngồi chơi dài. Ai hên thì một tháng 20 ngày có việc, nhưng số này hiếm lắm”, Thắng kể.

Một khảo sát chính thức hiếm hoi về tác động xã hội của suy giảm kinh tế tại Việt Nam đối với người lao động tự do tại năm chợ lao động ở Hà Nội – Giảng Võ, Bưởi, Phạm Ngọc Thạch, Long Biên, cầu vượt Mỹ Đình – do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Tổ chức Oxfam Anh thực hiện gần đây, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, cho biết những người làm thuê theo ngày đang phải đối mặt với tình trạng giảm thu nhập và thiếu việc làm.

Theo Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, các chi phí sinh hoạt, ăn ở của mỗi người lao động đã tăng trung bình từ 25-50% trong khi mức tiền công của mỗi loại công việc chỉ tăng 10-20% và số ngày có việc lại giảm 50% đã làm giảm đáng kể số tiền tiết kiệm gửi về nuôi gia đình của mỗi người lao động nhập cư.

Nhưng, đáng ngạc nhiên là trong tình hình việc ít, người nhiều, tính cộng đồng và sự đoàn kết giữa những người lao động tự do chờ việc tại cùng một điểm chợ rất cao, không chỉ trong nhóm đồng hương, anh em họ hàng mà cả những người khác quê cũng biết đùm bọc bảo ban nhau cùng làm ăn.

Cùng cảnh ngộ phải xa gia đình lên thành phố bán sức lao động kiếm sống, nên họ dễ đồng cảm và thương nhau hơn, dù ai cũng phải cố tranh việc để nuôi vợ con. Theo nhóm khảo sát, những người chờ việc được hỏi đều thừa nhận, việc chọn người làm nhiều khi tùy thuộc vào cảm tính của người đi thuê.

Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp mặc dù chủ nhà chỉ chọn một số người nhất định nhưng rất nhiều người khác vẫn đi theo. Đến nơi nhận việc, trừ khi chủ nhà vẫn chỉ chọn từng đấy người thì số người đi theo mới quay về, nếu chủ nhà đồng ý khoán việc thì tất cả những người đã đến sẽ cùng nhau làm rồi cùng chia tiền công.

Đây là cách để những người lao động tự do tại các chợ lao động giảm bớt yếu tố may rủi trong lúc chờ việc.“Việc ít, nhiều khi họ thuê chỉ 1-2 người thôi nhưng nhiều anh em vẫn tự động cùng đi, đến đó cùng làm. Ví dụ, họ thuê mình việc này 400.000, nếu như chỉ mình hay thêm 1-2 người nữa thôi thì mình được nhiều tiền hơn, nhưng có anh em cùng đi, cùng làm thì chia đều hết. Mỗi người kiếm một ít, 10 người đi thì vẫn chia đều ra bằng nhau, cùng cảnh làm ăn với nhau mà”. Đây là một đoạn trích từ thảo luận nhóm nam, nữ lao động tại các chợ lao động Bưởi và Giảng Võ trong bảng khảo sát.

Chi phí sinh hoạt tăng, tiền tiết kiệm giảm

Theo Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, thu nhập của những người làm thuê theo ngày ở Hà Nội đang bị giảm sút, nguyên nhân là do có ít việc làm hơn so với một năm trước đây, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng vốn trước đây là nguồn việc (và thu nhập) chính của họ.

Hàng năm, thời điểm người lao động tập trung chờ việc tại các chợ lao động nhiều nhất là từ tháng 9-12 Âm lịch. Trên thực tế, từ tháng 9 (Âm lịch) năm 2008 khối lượng công việc xây dựng đã giảm hẳn, ước tính tới 70% trong vòng một năm qua. Các công việc phổ thông khác: khuân vác, chuyển đồ, thu dọn vệ sinh… cũng giảm khoảng 30%.

Nhu cầu thuê lao động tự do tại các chợ lao động ở Hà Nội giảm sút có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc giá nguyên vật liệu xây dựng tăng cao vào năm 2008 khiến nhiều công trình xây dựng phải tạm ngưng thi công, còn số công trình xây mới rất ít.

Mặt khác, sự cạnh tranh của các công ty dịch vụ vệ sinh nhà cửa, vận chuyển đồ đạc, bốc xếp hàng hóa cũng góp phần làm giảm cơ hội có việc làm của lao động phổ thông, trong đó có phụ nữ. Một nguyên nhân khác là nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với sự giảm sút về cầu hàng hóa, dịch vụ nội địa và khó khăn về huy động vốn buộc phải cắt giảm sản lượng hàng hóa, dịch vụ khiến cho nhu cầu thuê việc bốc vác giảm mạnh.

Tất cả các yếu tố trên, như đã phân tích, tác động rất mạnh đến thu nhập và sinh kế của nhóm lao động chờ việc theo ngày. Giá công lao động bình quân vào cuối năm 2008 tuy tăng 10-20% so với cuối năm 2007 (do giá cả sinh hoạt chung tăng), song tính trung bình số ngày có việc làm trong tháng đã giảm tới 50% trong cùng giai đoạn ở tất cả các loại hình lao động giản đơn.

Theo Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, các chi phí sinh hoạt, ăn ở của mỗi người lao động đã tăng trung bình từ 25-50% trong khi mức tiền công của mỗi loại công việc chỉ tăng 10-20% và số ngày có việc lại giảm 50% đã làm giảm đáng kể số tiền tiết kiệm gửi về nuôi gia đình của mỗi người lao động nhập cư.

Một chuyên gia Oxfam tham gia nhóm khảo sát cho biết, nhóm lao động nam sống xa gia đình tiết kiệm được ít nhất. Một người phải chi tiêu trung bình 50.000-60.000 đồng/ngày, gồm tiền thuê trọ (hiện là 10.000 đồng/ngày, so với 7.000 đồng/ngày thời điểm đầu 2008), tiền ăn sáng từ 5.000-15.000 đồng/bữa, bữa trưa và bữa tối ăn cơm bụi 15.000-20.000 đồng/bữa, và các khoản tiền chè thuốc, đôi khi cả tiền mua rượu.

“Đầu năm 2008 thì rẻ hơn, chỉ 10.000 đồng/suất là ăn được. Nay thì 10.000 mà chả ăn được là bao, 5.000 đồng chỉ được có ba miếng thịt bằng ngón tay. Mình đi làm thế này không ăn thì lấy đâu ra sức, đành phải ăn 15.000-20.000 đồng/bữa. Biết là tốn nhưng làm sao được”, báo cáo dẫn lời anh Cao Văn H., 42 tuổi, quê Thanh Hóa, chờ việc tại chợ Phạm Ngọc Thạch.

Hầu hết người lao động được hỏi đều nói trung bình trong năm 2007 họ tiết kiệm được 1,2-1,5 triệu đồng/tháng, cá biệt có người được 2 triệu/tháng do may mắn kiếm được nhiều việc hơn. Tuy nhiên, đến năm 2008, trung bình mỗi người chỉ để dành được từ 500 ngàn-1 triệu đồng/tháng.

Đặc biệt, từ sau Tết Kỷ sửu đến nay, việc làm xây dựng giảm rất mạnh, các việc khác cũng giảm đáng kể đã ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của người lao động. Nhiều người từ sau Tết đến nay tiền công lao động chỉ đủ trả tiền nhà, tiền ăn, thậm chí có người thu nhập bị âm phải đi vay mượn.

Và nguy cơ con cái phải bỏ họcMột trong những nỗi lo ám ảnh nhất, thường trực nhất đối với nhóm lao động phổ thông chờ việc theo ngày, là kiếm đủ tiền ăn học cho con.

Lê Văn Thắng buồn rầu nói, tình hình trong vài tháng gần đây, với gia đình anh, là rất khó khăn. Vợ ở quê chỉ có độc hai sào ruộng với mấy con heo, đàn gà không đủ đóng tiền học cho hai đứa con học cấp hai. Mỗi tháng Thắng vẻn vẹn gửi về cho vợ con được hơn 1,2 triệu đồng. Thắng cho biết các anh em cùng nhóm cũng ở trong tình cảnh tương tự, có người đã cho con nghỉ học để lên Hà Nội kiếm việc phụ giúp gia đình.

Đa số người lao động tự do đều quyết tâm lo cho con cái học đến hết lớp 12, còn lên đại học thì khó có điều kiện. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, nhiều người lo con cái họ ở quê phải nghỉ học giữa chừng. Họ cũng cho biết, dù khó khăn vẫn cố cầm cự tại các chợ lao động vì về quê thì không còn ruộng đất, không có nghề nghiệp nên chờ việc theo ngày là giải pháp khả dĩ nhất trước mắt.

Họ chống chọi trước mắt bằng cách vay tiền trong cùng nhóm lao động, ăn chịu chủ quán trong vài ngày, nợ tiền thuê trọ trong 10 ngày trở lại.

Giải pháp an sinh xã hội cho lao động tự do

Theo ông Nguyễn Văn Ninh, Công ty Bảo hiểm AIG Việt Nam, một trong những giải pháp lâu dài giải quyết an sinh xã hội cho người lao động tự do – nông dân là xây dựng gói sản phẩm lương hưu cho nhóm đối tượng này, giúp họ có lương hưu hàng tháng như công chức nhà nước.

Gói sản phẩm mà AIG Việt Nam xây dựng (gọi tắt là chương trình 20-70) nhắm đến đối tượng chính là người lao động tự do – nông dân, mà theo ước tính của AIG, cả nước hiện có khoảng 80% thuộc nhóm người này khi hết tuổi lao động không có quỹ lương hưu để phòng ngừa rủi ro và gây sức ép rất lớn cho xã hội.

Chương trình đề ra nhiều mức phí, ví dụ 70.000 đồng/tháng với người có thu nhập thấp như một hình thức tích lũy lương hưu cho lao động tự do linh hoạt, khi kiếm được nhiều tiền mà chưa tiêu đến họ có thể gửi ngân hàng để kiếm lãi, khi cần lại đến ngân hàng rút. “Giống như mỗi ngày bốc một nắm gạo cho vào hũ gạo để dành, đến khi không kiếm được gạo, đem hũ gạo đó ra ăn”.

Ông Ninh kiến nghị, Chính phủ nên giao cho ngân hàng chính sách lo đảm bảo việc quản lý tiền của dân gửi tại ngân hàng và giúp ngân hàng thiết lập mạng lưới các quỹ tín dụng tại các địa phương.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới