Thứ Hai, 17/06/2024, 21:12
28.9 C
Ho Chi Minh City

Khủng hoảng dầu mỏ đang tới

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Khủng hoảng dầu mỏ đang tới

Bảng 1: Giá dầu tăng gần gấp đôi chỉ sau một năm.

(TBKTSG) – Giá dầu thô đầu tuần này đã lên mức kỷ lục mới: 117,4-117,76 đô la Mỹ/thùng và theo giới kinh doanh, một cuộc khủng hoảng năng lượng mới với những hậu quả khó lường đang lấp ló phía chân trời.

Nguyên nhân trực tiếp của đợt tăng giá này là sự kiện tàu chở dầu của Nhật bị tấn công ngoài bờ biển Yemen, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC đang họp hội nghị tại Rome quyết định không tăng sản lượng, hai đường ống dẫn dầu tại Nigeria bị quân nổi dậy phá hoại, đồng đô la Mỹ xuống giá cùng với tình trạng tăng giá lương thực và các nguyên liệu chiến lược…

Bất ổn định chính trị, khủng bố và đầu cơ chắc chắn vẫn là đòn bẩy đẩy giá dầu lên nhưng giới kinh doanh giật mình nhận ra rằng, kỷ lục mới của giá dầu được lập khi nguồn cung dầu vẫn bảo đảm và hoạt động kinh doanh vẫn diễn ra bình thường (xem bảng 1: Diễn biến giá dầu).

Mất cân đối cung-cầu

Theo các chuyên gia, đằng sau chuỗi tăng giá liên tục của dầu mỏ là nỗi lo mất cân đối cung-cầu trên thị trường trước mắt và trong viễn cảnh dài hạn. Jan Stuart, kinh tế gia về dầu mỏ của Ngân hàng UBS, nhận định: “Thị trường cho thấy có vấn đề trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng tương lai”. Theo ông, sự căng thẳng về nguồn cung dầu sẽ ngày càng tệ hại do nhu cầu tăng không ngừng.

Đến giữa thế kỷ 21, dân số thế giới tăng thêm 50%, vào khoảng 9 tỉ người; số xe hơi và xe tải phục vụ cho khối cư dân đông đảo đó cũng sẽ tăng lên khoảng 2 tỉ chiếc và số máy bay dân dụng sẽ tăng gấp đôi, lên khoảng 36.000 chiếc. Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) – tổ chức đại diện cho các quốc gia tiêu thụ dầu mỏ hàng đầu – chỉ 20 năm nữa nhu cầu dầu mỏ toàn cầu sẽ tăng 35% so với hiện nay và các nước sản xuất dầu phải cung ứng thêm mỗi năm khoảng 11 tỉ thùng dầu.

Vấn đề là lấy đâu ra lượng dầu mỏ khổng lồ đó. Các mỏ dầu ở biển Bắc và Alaska đang dần cạn kiệt, các công ty dầu mỏ ở đó đang nỗ lực duy trì sản lượng. Một quan chức điều hành Lukoil, tập đoàn dầu mỏ lớn thứ hai của Nga, tiết lộ hồi tuần trước rằng, dự trữ dầu khí của Nga cũng đang cạn dần và sản lượng không thể tăng lên nhiều cho dù giá dầu đang ở mức rất cao. Ở Nigeria và Mexico những rối loạn về chính trị-xã hội làm cho sản lượng dầu ngày càng suy giảm mà không phục hồi được.

Trong 13 nước thành viên OPEC chỉ có Saudi Arabia có khả năng tăng sản lượng. Và từ năm 1970 đến nay, tổ chức này không phát hiện thêm mỏ dầu mới nào. OPEC hiện vẫn nắm giữ hai phần ba trữ lượng dầu khí đã phát hiện của thế giới nhưng do nhiều nguyên nhân, họ không tạo thuận lợi cho các tập đoàn dầu khí đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ của mình.

Bản thân các tập đoàn này – có công nghệ và kinh nghiệm khai thác dầu, có khả năng cung ứng dầu với giá rẻ – ngày càng bị gạt ra rìa khi các quốc gia có dầu dành ưu tiên cho các công ty dầu mỏ quốc doanh như Aramco của Saudi hay Gazprom của Nga. Mười bốn trong hai mươi công ty lớn nhất ngành dầu mỏ là các công ty quốc doanh; các tập đoàn tư nhân như Exxon Mobil, BP, và Chevron chỉ còn nắm giữ chưa tới 10% trữ lượng dầu của thế giới.

Theo tập đoàn BP, trong thế kỷ vừa qua, nhân loại đã đốt khoảng 1 ngàn tỉ thùng dầu và dưới đất còn khoảng 1,2 ngàn tỉ thùng chưa khai thác nhưng với tốc độ tiêu thụ như hiện nay, trữ lượng này chỉ đủ dùng chưa tới 30 năm. Nhiều chuyên gia theo phái lạc quan vẫn tin rằng, còn có nhiều mỏ dầu chưa được phát hiện, chẳng hạn như ở Bắc Cực và những nơi mà việc khai thác rất khó khăn và tốn kém. Tuy vậy, những năm qua các tập đoàn dầu mỏ đã nỗ lực thăm dò mà chưa có mấy kết quả; riêng năm ngoái 5 tập đoàn dầu mỏ lớn nhất đã đầu tư 100 tỉ đô la để tìm dầu nhưng số dầu tìm được vẫn không bù nổi số dầu họ khai thác trong một năm. 

Các loại năng lượng thay thế như nhiên liệu sinh học ngày càng tỏ ra không phải là đáp số cho bài toán khủng hoảng dầu mỏ, cũng không “thân thiện với môi trường” như kỳ vọng của nhiều người. Một vấn đề nóng trong dư luận mấy tuần qua là phải chăng việc sản xuất ồ ạt nhiên liệu sinh học từ bắp, mía đường và ngũ cốc là nguyên nhân quan trọng gây khan hiếm lương thực, đe dọa miếng ăn của hàng triệu người nghèo hiện nay. Thứ Sáu tuần trước, người đứng đầu Quỹ Tiền tệ quốc tế cảnh báo rằng, nhiên liệu sinh học “đang là vấn đề đạo đức thực sự” và kêu gọi ngăn cấm việc sử dụng lương thực để chạy xe hơi, xe tải và xe buýt.

Triển vọng nào

Bảng 2: Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970-1980 nhiều nước đã giảm nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ trong khi nhu cầu của Mỹ vẫn tăng.

Như vậy sự gia tăng nhu cầu cùng với khan hiếm trong nguồn cung đang đưa thế giới tới bờ vực của một cuộc khủng hoảng năng lượng mà giá dầu leo thang là dấu hiệu cụ thể nhất.

Theo kịch bản xấu nhất, nhu cầu năng lượng cho nền kinh tế sẽ khiến các quốc gia phải tranh giành nhau nguồn tài nguyên dầu mỏ và chiến tranh năng lượng là khó tránh khỏi. Chiến tranh làm gián đoạn hoạt động khai thác, vận chuyển dầu cho nên giá dầu bị đẩy lên những mức cao mới. Việc tranh giành mỏ dầu và các đường ống vận chuyển dầu ở châu Phi, châu Mỹ Latin, các nước Trung Á thuộc Liên xô cũ giữa Trung Quốc, Ấn Độ và các tập đoàn dầu khí phương Tây đang ngày càng căng thẳng là một dấu hiệu mang tính dự báo.

Ở phía lạc quan, nhiều chuyên gia tin rằng, có mối tương quan chặt chẽ giữa giá dầu và nhu cầu: giá dầu cao sẽ buộc người tiêu thụ phải tiết kiệm. Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu thập niên 1970, mức tiêu thụ xăng dầu ở nhiều nước phương Tây đã giảm đáng kể, người ta kỳ vọng một hiện tượng tương tự sẽ tái diễn trong những năm sắp tới (xem bảng 2: Mức giảm nhu cầu xăng dầu của các nước từ đầu thập niên 1970 đến năm 2007).

Tuy vậy, lần này ít có khả năng các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ sẽ cắt giảm nhu cầu của mình. Kinh tế phát triển, mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu nhiên liệu cũng tăng tương ứng. Theo IEA, đến năm 2030, nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc sẽ cao gấp đôi hiện nay, ở mức 16 triệu thùng/ngày.

Từ năm 1990-2006, số xe hơi của Trung Quốc tăng 7 lần, lên 37 triệu chiếc. Hiện thời Trung Quốc đã vượt qua Nhật và Đức, trở thành thị trường xe hơi lớn thứ hai thế giới và IEA dự báo đến năm 2015 Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ về mức tiêu thụ xe hơi, lên khoảng 300 triệu chiếc vào năm 2030.

William Chandler, chuyên gia năng lượng của Quỹ Hòa bình quốc tế Carnegie, cho rằng nếu người Trung Quốc cũng xài năng lượng với mức như người Mỹ thì nhu cầu xăng dầu của thế giới sẽ lập tức tăng gấp đôi. Và Ấn Độ cũng không chịu kém. Đến năm 2003, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là hai nước tiêu thụ nhiều dầu nhất thế giới, tương ứng với vị trí của Mỹ và Nhật hiện nay.

Kinh nghiệm xấu từ Mỹ

Lối sống Mỹ

* Với mỗi gallon xăng, một chiếc xe Nhật đi được 46 dặm, xe EU đi 43 dặm, xe Trung Quốc đi 36 dặm trong khi xe Mỹ chỉ đi được 27,5 dặm;

* Bình quân mỗi năm 1 chiếc xe hơi ở Nhật đi hết 7.079 dặm, xe EU đi 7.829 dặm trong khi xe Mỹ đi 12.427 dặm!

* Tại Mỹ, cứ 1 người đi làm bằng xe đạp thì có 5 người đi bộ, 9 người đi phương tiện công cộng và 154 người lái xe hơi riêng!

Mỹ là “tấm gương phản diện” về chính sách xăng dầu mà các nước nên chú ý. Mặc dù phải nhập khẩu dầu mỏ với giá cao dẫn tới thâm hụt thương mại ngày càng nặng nhưng Mỹ vẫn là nơi có giá xăng dầu rẻ nhất, thuế năng lượng thấp nhất, đội xe hơi “uống xăng” nhất và người dân đi lại bằng xe hơi nhiều nhất thế giới. Hậu quả là hiện nay Mỹ sử dụng một phần tư lượng dầu mỏ mà thế giới sản xuất ra, một nửa trong số đó là cho nhu cầu đi lại, khiến cho Mỹ ngày càng phụ thuộc vào nguồn cung cấp dầu từ nước ngoài.

Tình hình bức bách đến mức năm ngoái Quốc hội Mỹ phải ban hành luật buộc các nhà sản xuất xe hơi phải nâng hiệu quả sử dụng xăng dầu lên thêm 40%, vào năm 2020 mỗi gallon xăng phải chạy được tối thiểu 35 dặm, các công ty xăng dầu phải pha vào xăng 136 tỉ lít ethanol để giảm 10% lượng xăng dầu nhập khẩu…

Muộn còn hơn không, những biện pháp này tuy chưa chắc mang lại hiệu quả, song cho thấy sự thay đổi lối sống sao cho ít tiêu tốn năng lượng hơn, thân thiện với môi trường hơn nhờ những tiến bộ mới của công nghệ có thể là hướng đi đúng trong việc giải quyết bài toán dầu mỏ.

Vấn đề là làm thế nào thay đổi thói quen, lối sống của mọi người, nếu không sẽ có một ngày không còn dầu mỏ để sử dụng nữa và xem ra ngày ấy chẳng còn xa!

HUỲNH HOA (Theo New York Times)    

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới