Thứ Ba, 18/06/2024, 20:12
31.7 C
Ho Chi Minh City

Học để làm, không phải… để dành!

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Học để làm, không phải… để dành!

Huỳnh Kim

(TBKTSG) – LTS: Trong bài viết “Đừng biến Đề án 1956 thành phong trào” đăng trên mục Ý kiến số báo tuần trước, ra ngày 25-8-2011, TBKTSG đã nêu những bất cập của Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn (Đề án 1956). Tuần này, TBKTSG tiếp tục gặp gỡ TS. LÊ VĂN BẢNH, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL và ông NGUYỄN MINH NHỊ, cựu Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, xoay quanh việc thực hiện đề án này ở ĐBSCL.

TBKTSG: Thưa, các ông nghĩ gì về Đề án 1956?

Học để làm, không phải... để dành!
TS. LÊ VĂN BẢNH

– TS. LÊ VĂN BẢNH: Đề án 1956 với kinh phí 26.000 tỉ đồng đến năm 2020 đặt mục tiêu đào tạo mỗi năm 3 triệu lao động, trong đó có 1 triệu lao động nông thôn. Trong 1 triệu lao động đó có nông dân làm nông và nông dân chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp, có thể ly hương hoặc bất ly hương. Lúc khởi động đề án, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng cục Dạy nghề làm khá bài bản. Kế hoạch là đào tạo nghề phi nông nghiệp do Tổng cục Dạy nghề đảm trách, phần dạy nghề nông nghiệp giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì. Năm 2008 có hội nghị về việc này tại Nha Trang để ký kết hợp tác và giao nhiệm vụ cho các đơn vị có liên quan, trong đó, việc dạy nghề nông nghiệp vùng ĐBSCL giao cho Viện Lúa ĐBSCL. Nhưng từ khi ký kết đến nay thì không thấy nhắc gì đến chuyện này nữa.

– Ông NGUYỄN MINH NHỊ: Thực tế là lao động nông thôn không có nghề gì khác ngoài làm ruộng, và ở nông thôn cũng không có được mấy làng nghề để nông dân có thể theo học và làm. Dạy làm ruộng như chương trình khuyến nông đang làm là đúng, bởi trước đây, làm ruộng chỉ theo kinh nghiệm nên chậm tiến, nhờ chương trình khuyến nông hơn 20 năm qua mà nông dân mình đã khá lên rất nhiều. Còn dạy nghề khác là nghề gì và có nhu cầu sử dụng lao động đối với những nghề đó không thì cần làm cho rõ. Không rõ thì sẽ là duy ý chí. Cứ quan niệm “dạy cho biết nghề rồi tìm việc làm sau” thì đó là ảo tưởng. Còn nếu chỉ dạy làm nông thì không cần tốn tiền “quá sức tưởng tượng” như vậy.

TBKTSG: Từng là Hiệu trưởng trường Dạy nghề Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam bộ thuộc Viện Lúa ĐBSCL, ông đánh giá thế nào về tình hình thực hiện đề án này?

– TS. LÊ VĂN BẢNH: Chỉ mới qua một năm thực hiện, đề án sắp trở thành “phong trào” vì nó không sát với thực tế và thiếu chất lượng. Trở ngại chính là do mỗi cơ quan đều thực hiện theo cách riêng, thường không đồng bộ. Cách tiếp cận là làm “từ trên xuống”, thiếu đánh giá nhu cầu của các nhóm đối tượng nông dân theo các tiểu vùng sinh thái và địa lý hành chính khác nhau đã dẫn đến tình trạng đào tạo không địa chỉ. Cuối cùng, người được đào tạo nghề hoặc là không kiếm được việc làm, hoặc là kiếm được việc làm nhưng không đúng theo nghề được đào tạo. Bên cạnh đó, vẫn chưa có một trung tâm nghiên cứu dự báo, đào tạo nghề cho nông dân và cán bộ địa phương theo phương pháp mới – “lấy người học làm trung tâm”.

TBKTSG: Từng chỉ đạo việc đào tạo nghề ở nông thôn khi còn làm chủ tịch tỉnh An Giang, theo ông, Đề án 1956 cần học những bài học gì?

– Ông NGUYỄN MINH NHỊ: Dù rất quan tâm nhưng khi còn làm việc, tôi cũng rất lúng túng trong cách làm. Vì muốn dạy nghề cho lao động nông thôn, trước tiên phải có cơ sở vật chất như trường hoặc xưởng, hoặc cơ sở sản xuất để người học được thực hành, chứ không phải chỉ nghe nói và xem hình hoặc mô hình. Cơ sở dạy nghề phải gần địa bàn nông thôn. Đặc biệt, phải có thầy “vừa biết nói vừa biết làm” đứng dạy. Không thể học hàn mà không có cái để hàn, học may mà không có thứ để may… Cũng không nên đưa hết các việc, cả nghề nông lẫn phi nông vào học trong “mười bữa nửa tháng”, vì như vậy chỉ là để “trả nợ quỷ thần”, để có cái chuyện “báo cáo lấy tiền… chùa”.

TBKTSG: Theo các ông thì hiện nay cần dạy những nghề gì ở nông thôn?

Ông NGUYỄN MINH NHỊ

– Phải có nơi làm nghề mới có nhu cầu học nghề. Đào tạo kiểu “đón đầu”, tạo “thợ dự trữ”, chờ mãi mới có cơ sở sản xuất thì họ đã quên nghề hết rồi.

Nên liên hệ các khu công nghiệp xem nơi nào có nhu cầu, ký hợp đồng cụ thể rồi tổ chức dạy nghề cung ứng theo hợp đồng ấy. Làm được như vậy mới thiết thực và tránh lãng phí, tham nhũng.

Để hỗ trợ dạy nghề cũng nên giải tán ba cái trường đại học dỏm đi, kể cả trường công lập dỏm. Lãng phí lắm. Tội nghiệp các bậc cha mẹ và cũng tội cho các cháu “mơ việc làm ảo”, bởi trên thực tế, không ai tuyển người lấy bằng cấp ở những trường này. Còn nếu được thu nhận thì cũng hạn hữu nhờ gửi gắm hoặc vì tiền. Rốt cuộc, nguồn “chất lượng cao” cũng thấp tè, nguồn lao động nghề lại không có nghề.

– TS. LÊ VĂN BẢNH: Đại bộ phận dân ở nông thôn gắn với sản xuất nông nghiệp, nhưng năng suất chênh lệch lớn do trình độ tay nghề khác nhau giữa các hộ cùng địa phương và giữa các địa phương trong vùng. Trình độ dân trí thấp; 82% lao động nông thôn chưa qua đào tạo sơ cấp; đại đa số cán bộ cơ sở chưa được đào tạo.
Trong bối cảnh này, để cải thiện thu nhập cho hộ gia đình và thúc đẩy sự nghiệp phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, nông dân cần được nâng cao năng lực ứng dụng kỹ thuật canh tác nông nghiệp tiên tiến, đặc biệt là năng lực quản lý của cán bộ chính quyền địa phương. Ngoài ra, nâng cao năng lực lao động chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là chuyện tối cần thiết.

TBKTSG: Cụ thể, làm sao để Đề án 1956 không tiếp tục trở thành “phong trào” gây lãng phí ngân sách nhà nước?

– TS. LÊ VĂN BẢNH: Theo tôi, cần khắc phục mấy cái “thiếu”như sau:

Thiếu cơ sở vật chất. Các trung tâm dạy nghề thường thiếu mô hình, học cụ; dạy nghề nông nghiệp nhưng chưa có nơi thực tập, thực hành như ruộng thực nghiệm, trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản hoặc vườn cây ăn trái.

Thiếu giáo viên dạy nghề chuyên nghiệp. Chưa có nơi nào đào tạo giáo viên dạy nghề chuyên sâu cho các trung tâm này. Các trường sư phạm kỹ thuật hiện có thường không cung cấp đủ giáo viên, ngay cả cho hệ dạy nghề chính quy. Do vậy, học viên sau đào tạo chưa đạt tay nghề đạt chuẩn làm thuê cho các doanh nghiệp.

Thiếu khảo sát nhu cầu nghề nghiệp cho lao động nông thôn. Trung tâm đào tạo có khả năng đào tạo ngành gì thì chiêu sinh ngành ấy, chưa gắn kết tốt giữa đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm.

Thiếu liên kết vùng. Đúng ra, không nên thành lập trung tâm đào tạo nghề  ở mỗi huyện mà cần có sự liên kết vùng trong đào tạo nghề để có trung tâm đào tạo cấp vùng có chất lượng. Thí dụ trong đào tạo nghề nông cần có những trung tâm đào tạo nghề trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, gia súc gia cầm, nghề làm vườn – trồng cây ăn trái… ở những tỉnh, thành có thế mạnh về những sản phẩm đó. Nhờ các trường đại học, các viện nghiên cứu đào tạo giáo viên chuyên môn, đào tạo ra “máy cái” để có đội ngũ giáo viên chất lượng cao.

Tôi cũng đề nghị mỗi năm nên sơ kết thực hiện đề án một lần để kịp thời điều chỉnh, tránh lãng phí quá lớn xảy ra.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới