Thứ Ba, 18/06/2024, 10:24
28.9 C
Ho Chi Minh City

Hành trình của một thương hiệu

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Hành trình của một thương hiệu

Chế biến cà phê hoà tan tại Công ty cổ phần Vinacafé Biên Hòa – Ảnh: HỒNG VĂN

(SGTO) – Hơn 30 năm khá thăng trầm, từ một nhà máy nhỏ, có công suất chỉ 80 tấn cà phê hòa tan/năm, đến nay Vinacafé Biên Hòa đang là thương hiệu dẫn đầu với thị phần cà phê hòa tan chiếm 50,4%. Cuối tuần rồi, đơn vị này lại được đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động.

Nhà máy là trường học

Vinacafé Biên Hòa tiền thân là nhà máy cà phê Coronel được khởi công xây dựng vào năm 1969, đến năm 1973 thì lắp đặt xong nhưng mãi tới sau năm 1978, việc chế biến cà phê hòa tan vẫn ở trong tình trạng vừa sản xuất vừa thử nghiệm. Vì đây là nhà máy cà phê hòa tan đầu tiên ở Việt Nam nên có lúc đã trở thành địa chỉ nghiên cứu và thực nghiệm về công nghệ chế biến cà phê hòa tan của nhiều thầy cô giáo, sinh viên trường Đại học Bách khoa TPHCM.

Vào năm 1990, Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất rất ngạc nhiên không hiểu tại sao một thanh niên Việt Nam từ Liên Xô trở về sau một chuyến công tác không mang theo bất cứ một thứ hàng hoá  hay quà cáp nào cho riêng mình ngoài một vali chứa đầy các tấm nhựa kỹ thuật. Nhưng những thứ mà hải quan thấy tầm thường đó lại chính là “của hiếm” đối với ông Bùi Xuân Thoa, nay là Giám đốc Công ty cổ phần Vinacafé Biên Hoà.

Những tấm nhựa kỹ thuật lúc đó quý như vàng, nó là vật liệu mà các kỹ sư của nhà máy không thể tìm thấy trong nước, dùng để chế tác các tấm “roăng” cỡ lớn phục vụ cho việc cải tiến dây chuyền sản xuất cà phê hòa tan. Chiếc va ly đầy các tấm nhựa đó đã góp phần nâng công suất sản xuất tăng 50% so với thiết kế ban đầu trước năm 1975 của các kỹ sư Đức và làm cho dây chuyền sản xuất cho ra sản phẩm có chất lượng.

Sau năm 1993, một lần nữa, đội ngũ cán bộ kỹ thuật nhà máy đã cải tiến nâng công suất lên 120 tấn cà phê hòa tan mỗi năm và cho ra đời sản phẩm cà phê sữa hoà tan 3 trong 1, sản phẩm khá mới mẻ với người tiêu dùng trong nước. Bên cạnh nhà máy cũ của người Pháp để lại, năm 1998 công ty đã đầu tư xây dựng nhà máy mới có công suất 800 tấn cà phê hòa tan mỗi năm, gấp 10 lần nhà máy ban đầu.

Ông Thoa kể lại, chính vì khó khăn về kỹ thuật nên kỹ sư và công nhân nhà máy coi kỹ thuật là khâu then chốt, anh em kỹ sư ngày đêm mày mò làm chủ công nghệ, cải tiến kỹ thuật, giảm tiêu hao nguyên liệu xuống còn 75%, tăng năng suất lao động thêm 70% và quan trọng là làm cho chất lượng sản phẩm ổn định. Đây là cơ sở để nhà máy cho ra nhiếu sản phẩm “độc chiêu” trên thị trường như cà phê sữa hoà tan 3 trong 1, rồi cà phê sâm 4 trong 1 và nay còn có thêm sản phẩm mới là ngũ cốc dinh dưỡng.

“Chúng tôi nghiên cứu và tung ra thị trường cà phê sâm 4 trong 1 vào năm 2004 và gần như độc quyền trên thị trường. Hai năm sau, mới có đối thủ cạnh tranh trực tiếp là một công ty của Hàn Quốc”, ông Thoa nói và cho rằng, nhờ “nhà máy là trường học” mà công ty đã làm chủ được công nghệ, nghiên cứu các sản phẩm mới để tung ra chiếm lĩnh thị trường. Công suất thiết kế của hai nhà máy của công ty hiện là 880 tấn cà phê hoà tan nhưng thực tế các kỹ sư của công ty cải tiến chạy đạt 1.200 tấn cà phê để đáp ứng kịp nhu cầu của thị trường.

Bán cà phê hoà tan: không dễ

Người Việt đã quen uống cà phê pha phin cho nên để cà phê hòa tan thâm nhập được thị trường trong nước thật không dễ dàng. Ông Phạm Quang Vũ, Phó giám đốc kinh doanh hiện nay của công ty, nhớ lại những ngày đó ông là cán bộ cung tiêu, mang từng gói cà phê sữa 3 trong 1 đi tiếp thị, có người vui vẻ uống thử, có người nhìn bằng ánh mắt ái ngại: “Liệu cà phê trộn sữa sẵn thế này uống có bị đau bụng hay không?”

Kỷ niệm khó quên của ông Vũ là trong một hội chợ ở thành phố Vũng Tàu vào năm 1994, ông cùng mọi người mang cà phê sữa 3 trong 1 đến giới thiệu. Hai ngày đầu có người hỏi mua và bán được. Đến ngày thứ ba, người khách đã mua ngày đầu tiên khai mạc hội chợ quay lại mua thêm và khen rất ngon. Anh em trong đoàn, có cả cán bộ cung tiêu, cả nhân viên kế toán, cả công nhân làm việc ở xưởng sản xuất cũng kéo nhau đi bán hội chợ cùng siết tay nhau reo lên: “thành công rồi!” – Ông Vũ kể lại: “Khi đó chưa sản xuất nhiều như bây giờ, chúng tôi mang hàng đến hội chợ trên chiếc xe du lịch Peuguet cổ lỗ sĩ”.

Cứ thế, các sản phẩm cà phê hoà tan của công ty dần được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng. Lúc đó công ty mới nghĩ tới phát triển hệ thống phân phối, chứ trước kia chỉ lo làm sao cho người tiêu dùng biết tới sản phẩm của mình. Từ TPHCM, khu vực miền Đông Nam bộ, rồi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; sau đó là miền Trung và miền Bắc. Ông Vũ kể lúc đó trên thị trường Việt Nam, các sản phẩm cà phê hoà tan của công ty gần như chưa có đối thủ cạnh tranh.

Nhưng cạnh tranh thực sự trên thị trường bắt đầu vào năm 2000, sau khi một nhà máy cà phê hòa tan của một tập đoàn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, lại đầu tư chính ở Đồng Nai. Ông Lê Duyên, vào năm 2000 là giám đốc công ty, đã trấn an các đại lý của mình: “Các vị cứ yên tâm, họ có thuyền lớn thì đi đường biển, ta có thuyền nhỏ, ta đi đường sông, đường suối, rồi cũng đến đích”.

Còn nay theo lời anh Nguyễn Thanh Tùng, Trưởng phòng Marketing của công ty, trên thị trường có tới 30 nhãn hiệu cà phê hòa tan và Vinacafé Biên Hoà vẫn luôn dẫn đầu thị trường và điều này được các công ty nghiên cứu thị trường công bố hàng năm. Ngoài ra công ty còn đẩy mạnh xuất khẩu cà phê hòa tan sang Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Nga và một số thị trường khác.

Tăng tốc

Vào năm 2001, doanh số của Vinacafé Biên Hòa xấp xỉ 100 tỉ đồng thì năm ngoái đã lên tới 451 tỉ đồng và trong 6 năm qua, tốc độ tăng trưởng của công ty bình quân hơn 30% mỗi năm. Dự án nhà máy cà phê hòa tan có công suất 3.200 tấn cà phê hòa tan nguyên chất mỗi năm cùng với hệ thống kho bãi tại khu công nghiệp Long Thành trị giá 400 tỉ đồng dự kiến đi vào hoạt động vào giữa năm tới như một minh chứng cho chiến lược tăng tốc của công ty, sau một thời gian khẳng định tên tuổi của mình trên thương trường.

Đầu năm 2005, Vinacafé Biên Hòa (trực thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam) chuyển sang cổ phần hoá, đồng thời xây dựng lại chiến lược kinh doanh. Ông Bùi Xuân Thoa cho biết chiến lược của công ty giờ đây không chỉ là cà phê hòa tan, mà còn các thực phẩm khác. Mục tiêu của công ty vào năm 2009 đạt doanh thu 1.000 tỉ đồng, cao hơn gấp đôi hiện nay, mở rộng thêm các ngành hàng mới và đẩy mạnh xuất khẩu. Ông Thoa cho rằng thị trường cà phê hòa tan trong nước có tốc độ tăng bình quân 25-30% mỗi năm và thị trường xuất khẩu của công ty tăng 30-40% là những lý do thuyết phục để công ty bước vào chiến lược tăng tốc.

HỒNG VĂN

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới