Thứ Hai, 17/06/2024, 04:02
27.8 C
Ho Chi Minh City

Hàng Việt Nam đang ở đâu?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Hàng Việt Nam đang ở đâu?

Sơn Nghĩa

H’nu vẫn ngồi bên khung dệt của mình mong cà phê được giá. Ảnh: Sơn Nghĩa.

(TBKTSG) – H’Nu ngồi bên khung dệt, trong căn nhà dài ở khu du lịch buôn Đôn, xã EaWer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Daklak. Những ngày không đi rẫy, chị dệt thêm những tấm thổ cẩm để bán cho du khách. Cách buôn Đôn gần 40 ki lô mét, Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột đang hoạt động, nơi người ta trả giá, giao dịch kiếm lời từ những hạt cà phê do H’Nu làm ra. Chị không biết về hoạt động này và cũng chẳng quan tâm, H’Nu chỉ biết giá cà phê mà chồng chị vừa bán được đang ở mức 30.000 đồng/ki lô gam.

Cà phê của H’Nu

Cái màu nâu của hạt cà phê chắc mẩy, màu đỏ quạch của đất đỏ bazan giống như màu da, màu mắt của những cư dân vùng đất Ban Mê. Daklak, vùng đất trù phú nhất của Tây Nguyên, với những héc ta cà phê bạt ngàn, đất đai màu mỡ. Nhưng nhiều năm qua, cuộc sống của những người nông dân trồng cà phê nơi đây vẫn lam lũ, nỗi lo được mùa, rớt giá còn hằn trên những đôi mắt thâm quầng hòa với làn da nâu như những hạt cà phê, nhưng sẫm màu hơn, màu tai tái của núi rừng, làng bản.

Mỗi vụ thu hoạch H’Nu vẫn bán cà phê cho những đại lý, giá cả thì tùy vào giá thị trường xuất khẩu thời điểm đó mà đại lý cho giá cao hơn, hay thấp hơn. Nguồn thông tin duy nhất mà H’Nu có được về giá cả thị trường thế giới là những bản tin từ đài truyền hình tỉnh Daklak. “Công ty mua bao nhiêu thì mình bán bấy nhiêu, chỉ mong cà phê giữ giá được 35.000 đồng/ki lô gam thì người trồng cà phê sống được…”, H’Nu vẫn không dừng tay bên khung dệt của mình, nói. Những năm cà phê rớt giá là nỗi bất hạnh đối với những người trồng cà phê, chưa kể có năm cà phê mất mùa vì hạn hán sâu bệnh.

Những người trồng cà phê và có nỗi lo như H’Nu không ít. Theo thống kê, Việt Nam có tới 561.000 hộ nông dân trồng cà phê, trong đó, khoảng 46% hộ thuộc diện nghèo. 30% người trồng cà phê là dân tộc thiểu số và 75% trong số này cũng thuộc diện nghèo.

Nghề trồng cà phê đã từng mang lại ấm no khi giá cà phê đã có thời gian tăng mạnh, nhưng cuộc khủng hoảng về giá những năm trước đã đưa họ trở lại nghèo vẫn hoàn nghèo. Chênh lệch lợi nhuận giữa người trồng cà phê và những công ty kinh doanh, chế biến cà phê thành phẩm là một con số khổng lồ.

Nhiều chuyên gia trong ngành cho rằng, Việt Nam có đầy đủ lợi thế về tiềm năng và chất lượng cà phê nhưng thực tế mặt hàng cà phê trong nước ở phân khúc thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, chỉ dừng lại ở xuất khẩu cà phê thô.

H’Nu và những người trồng cà phê đã từng kỳ vọng vào mô hình phát triển bền vững cho ngành cà phê của Việt Nam trong những năm qua. Mô hình này là nền tảng để cà phê Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, gia tăng giá trị thương hiệu cà phê Việt Nam. Nhưng thực tế, kỳ vọng của H’Nu chỉ là một thoáng mơ mộng trên khung vải, chị dệt những ngày rảnh rỗi.

Hàng Việt Nam – sao cứ ở mãi những công đoạn ít giá trị gia tăng?

Tình trạng này cũng xảy ra tương tự ở các ngành hàng khác như hạt tiêu, điều, trà, dệt may, da giày… Trong chuỗi giá trị toàn cầu, với những mặt hàng xuất khẩu, Việt Nam chỉ thực hiện những công đoạn ít giá trị gia tăng nhất, phần mang lại nhiều lợi nhuận ở khâu chế biến sản phẩm tinh chế, đầu tư gia tăng giá trị thương hiệu, thương mại hóa sản phẩm… hoàn toàn bỏ ngỏ cho những doanh nghiệp nước ngoài.

Cụ thể trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may, khâu có lợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu, cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại hóa sản phẩm. Việt Nam chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng với lượng giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị.

Theo ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hội Dệt may Thêu đan TPHCM (Agtex), chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may gồm có bốn công đoạn. Công đoạn thứ nhất liên quan đến khâu thiết kế sản phẩm bao gồm việc đưa ra ý tưởng, thiết kế và tạo ra một dòng sản phẩm mới. Công đoạn thứ hai, doanh nghiệp phải tìm được nguồn nguyên liệu, thiết bị phù hợp cho sản xuất. Tiếp đến là công đoạn tổ chức sản xuất, bao gồm công nghệ, nhà xưởng, trình độ tay nghề của công nhân. Phân đoạn cuối cùng trong chuỗi giá trị là phân phối. “Khi nhìn vào bốn phân khúc này, chúng ta sẽ hiểu những mặt hàng của Việt Nam đang tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu như thế nào”, ông Kiệt nói.

Hiện những sản phẩm dệt may, da giày của Việt Nam hoàn chỉnh từ khâu nguyên liệu, đặt hàng theo mẫu của đối tác, tổ chức sản xuất và bán theo phương thức FOB – chỉ chiếm khoảng 20% trong chuỗi giá trị sản phẩm dệt may. Trong 20% này, doanh nghiệp cũng không thể hưởng trọn, vì phải trả chi phí nguyên liệu, nhân công và các loại thuế nhập khẩu. Thực tế, doanh nghiệp chỉ hưởng được 10-15% trong chuỗi giá trị mặt hàng này.

Một thực tế đáng buồn là doanh nghiệp dệt may, da giày không thể thiết kế được sản phẩm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Âu, Mỹ. Doanh nghiệp Việt Nam chỉ có thể đưa ra ý tưởng, nhưng việc hoàn thiện mẫu mã và ra quyết định sản xuất theo nhu cầu của nước nhập khẩu là quyền của các nhà nhập khẩu. Khâu phân phối cũng là một điểm yếu của các nhà sản xuất Việt Nam, do giới hạn về kinh nghiệm cũng như nguồn vốn.

Trong một cuộc hội thảo về cơ hội cho hàng Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu vừa tổ chức gần đây, bà Phạm Thị Thu Hằng, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng điều các doanh nghiệp mong đợi là một chính sách phát triển đồng bộ với những phương thức hỗ trợ phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp, thông qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi quy mô quá nhỏ, doanh nghiệp khó có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Liên kết giữa các doanh nghiệp lại với nhau cũng là cách khả dĩ để cùng nhau chia sẻ lợi nhuận trong chuỗi giá trị.

Để hàng nông sản Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, theo nhiều chuyên gia, Nhà nước cần thực thi vai trò mở đường, tạo lập môi trường; các doanh nghiệp chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trên cơ sở lựa chọn đúng chuỗi, các khâu cần ưu tiên nhằm khai thác lợi thế so sánh, phát triển nhanh và bền vững.

Quan trọng hơn, việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp cũng là cách để những nông dân trồng cà phê như H’Nu tăng thu nhập, an tâm hơn trong cuộc sống thường nhật của mình.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới