Chủ Nhật, 14/07/2024, 21:56
26.2 C
Ho Chi Minh City

Hai mặt của FDI

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Hai mặt của FDI

Tư Giang

Hai mặt của FDI
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi gần như nằm trong tay doanh nghiệp nước ngoài. Ảnh: Uyên Viễn.

(TBKTSG) – Luồng vốn FDI đang có xu thế mở rộng và dần lấn át doanh nghiệp trong nước. Câu hỏi đặt ra, xu thế này có tốt hay không? Hầu hết các chuyên gia mà TBKTSG có cơ hội trao đổi đều khẳng định đây là xu thế tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn không ít âu lo.

Rốt cuộc, những đại biểu giữ cái nhìn thận trọng đã thắng thế trong Quốc hội khi cơ quan lập pháp thông qua Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi hồi giữa tháng 6 vừa qua. Có tới hơn 66% đại biểu nhất trí với điều luật quy định  khống chế mức chi phí quảng cáo, tiếp thị và khuyến mãi ở mức 15% thay vì dỡ bỏ hoàn toàn như nhiều hiệp hội doanh nghiệp, đặc biệt là từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đề nghị.

Mức chi phí này, được nới rộng hơn so với mức 10% được áp dụng suốt hơn cả thập kỷ trước cho thấy, Quốc hội vẫn giữ thái độ dè dặt, dù đã tỏ ra thỏa hiệp. Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân giải thích, nếu bỏ mức khống chế, không ít doanh nghiệp có thể sẽ đẩy chi phí này lên cao quá mức cần thiết, như trong quá khứ.

Kết luận của bà Ngân có vô số trường hợp trong thực tế chứng minh. Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính Nguyễn Văn Phụng vẫn còn nhớ thương vụ kem đánh răng Dạ Lan của Việt Nam đã phải bán cho tập đoàn Colgate của Mỹ với giá vỏn vẹn 3 triệu đô la Mỹ cách đây gần hai thập kỷ. Dạ Lan, từng chiếm tới 30% thị phần kem đánh răng cả nước, đã bị thua lỗ nhiều năm do chi phí quảng cáo, tiếp thị quá lớn, ông giải thích. “Rốt cuộc là Dạ Lan phải bán cho Colgate. Bài học của Dạ Lan và không ít doanh nghiệp khác là đau đớn”, ông nói. Song, sự thực của vấn đề không đơn giản dừng ở đó. Ông Phụng cho rằng, nhiều doanh nghiệp nước ngoài bị lỗ nhiều năm vẫn sẵn sàng chi nhiều tiền cho hoạt động quảng cáo do nhận được hỗ trợ tài chính từ công ty mẹ. “Đây là điều đáng lo lắng với các doanh nghiệp Việt Nam”, ông nói trong một cuộc hội thảo trước khi Quốc hội phê chuẩn dự luật.

Góc nhìn của cả bên lập pháp và hành pháp trong câu chuyện trên cho thấy tình thế lưỡng nan của Việt Nam: trong khi quốc gia vẫn đang nỗ lực thu hút thêm nguồn vốn FDI cho phát triển, thì lo ngại nền kinh tế bị phụ thuộc, và ở góc độ nào đó, bị thôn tính bởi các doanh nghiệp FDI vẫn luôn ám ảnh. Câu chuyện này đang ngày càng lộ rõ trong thời gian gần đây. Dấu ấn của các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng lan tràn mọi lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam, từ các dự án lọc dầu quy mô lớn, các nhà máy thép trị giá cả tỉ đô la Mỹ, các dự án sản xuất thức ăn chăn nuôi, cho đến các tòa nhà cao tầng, các khu dân cư, hay các siêu thị phân phối các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu.

Một ví dụ trong hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A). Số lượng thương vụ M&A tại Việt Nam đã đạt con số 1.000 với tổng giá trị gần 15 tỉ đô la Mỹ kể từ năm 2008 đến nay, theo ông Phan Hữu Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu đầu tư nước ngoài, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Còn theo báo cáo của nhóm nghiên cứu M&A Vietnam Forum thuộc báo Đầu tư, nhà tổ chức sự kiện M&A hàng năm, các thương vụ có liên quan đến nước ngoài chiếm tới 66% tổng giá trị 5,1 tỉ đô la Mỹ trong năm 2012. Báo cáo cho biết, có tới 57% lãnh đạo doanh nghiệp trả lời họ lo ngại doanh nghiệp bị thâu tóm, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 23% trả lời việc thâu tóm là bình thường.

Xu thế này rõ ràng là đáng quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh các “doanh nghiệp dân tộc”, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng ca ngợi, đang ngày càng tỏ ra yếu thế và tổn thương do tính bất ổn của nền kinh tế vĩ mô kéo dài. Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, tỏ ra sốt ruột: “Tôi sợ rằng, trong lúc chúng ta cứ loay hoay giải quyết nợ xấu, bất động sản… thì các doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam chả còn gì vì bị doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài thôn tính như các ngành thức ăn gia súc, mỹ phẩm, đồ uống và bánh kẹo. Rất nhiều doanh nghiệp trong các ngành này đã bị xóa sổ trên bản đồ công nghiệp Việt Nam”, ông cảnh báo.

Cảnh báo của ông Nghĩa có số liệu để chứng minh, xét về thu hút vốn FDI. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm năm qua, vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp FDI có mức tăng trưởng trung bình tới 16,8%/năm, vượt trội so với khu vực kinh tế ngoài nhà nước là 10,9%/năm và khu vực kinh tế nhà nước là 2,8%/năm.

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tới 44,3% tổng vốn FDI đăng ký trong năm năm qua, cao nhất trong các lĩnh vực thu hút FDI. Bộ này cũng ghi nhận nguồn vốn FDI cũng tăng trưởng rất mạnh trong các ngành khai khoáng; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; xây dựng, điện tử, bán dẫn, thiết bị chính xác, linh kiện ô tô.

Những ngành đạt được tăng trưởng cao nhất về thu hút vốn FDI là y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng bình quân 62,1%/năm), bán buôn, bán lẻ, sửa chữa xe cộ (28,7%), các dịch vụ khác (37,8%). Các ngành có mức thu hút FDI cao vọt trong các năm 2007-2008 là hoạt động kinh doanh bất động sản; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; giáo dục và đào tạo; vận tải, kho bãi; lưu trú và ăn uống.

Thống kê của ông Phan Hữu Thắng cho biết vốn FDI tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội qua các thời kỳ: từ 26,6 tỉ đô la Mỹ, chiếm 24,4% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 1991-2000; lên 69,5 tỉ đô la, chiếm 22,7% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2001-2011. Tỷ trọng đóng góp của FDI trong GDP tăng từ 2% năm 1992 lên 10,7% năm 2000, 16,9% năm 2006, 18,9% năm 2011. Bất kể ở góc độ nào, thì luồng vốn FDI cũng đang có xu thế mở rộng và dần lấn át doanh nghiệp trong nước.

Câu hỏi đặt ra, xu thế này có tốt hay không? Hầu hết các chuyên gia mà Thời báo Kinh tế Sài Gòn có cơ hội trao đổi đều khẳng định là xu thế tích cực. Ông Lê Xuân Nghĩa giải thích: “Tác động của FDI rất quan trọng, đặc biệt là qua hai lần khủng hoảng năm 1997 và 2008 vừa rồi. Khu vực FDI đã giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng, dù ở mức thấp, trong cả hai lần khủng hoảng này”.

Ông Phan Hữu Thắng cho rằng dù phụ thuộc vào vốn FDI, nhưng luồng vốn này đang giúp bù đắp một phần chênh lệch lên tới 10% GDP mỗi  năm giữa tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư của Việt Nam. Ông nói: “Nguồn vốn FDI đã có một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian qua. Nếu không có các nguồn vốn bổ sung như FDI thì khó đạt được mục tiêu tăng trưởng như trong các năm vừa qua. Thiếu nguồn vốn này, tăng trưởng kinh tế chắc chắn sẽ thấp hơn, đồng thời còn tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác như công ăn, việc làm…”. Ông Nguyễn Mại, chuyên gia hàng đầu về FDI đồng tình, khi trích dẫn bình quân vốn FDI thực hiện hàng năm chiếm khoảng 25% vốn đầu tư xã hội trong 25 năm qua.

Tuy nhiên, dù vai trò quan trọng của khu vực FDI là không thể phủ nhận, nhưng tâm trạng lo lắng bị chèn ép mà cả cơ quan lập pháp và hành pháp từng trải qua khi thông qua luật thuế kể trên vẫn chưa thể chấm dứt.

Khoảng 66% kim ngạch xuất khẩu là từ khu vực FDI

Trong nửa đầu năm nay, Samsung Electronics Vietnam (SEV) đã xuất khẩu tới 8 tỉ đô la Mỹ, chiếm hầu hết giá trị kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện ở Việt Nam. Công ty đặt kế hoạch xuất khẩu tới 20 tỉ đô la Mỹ năm 2013, cao hơn nhiều so với 12,5 tỉ đô la Mỹ năm ngoái, tương ứng với 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bất chấp những lo ngại về tỷ lệ nội địa hóa, hay đóng góp cho ngân sách thấp, dòng ngoại tệ của SEV rõ ràng đã đóng góp đáng kể cho cán cân thanh toán của Việt Nam trong năm nay.

Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI như Samsung ngày càng giúp Việt Nam mở rộng thị trường. Ông Đào Quang Thu, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nói: “Các doanh nghiệp FDI vừa làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, vừa giúp mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là sang Hoa Kỳ và EU”. Theo bộ này, xuất khẩu của khu vực này bao gồm dầu thô trong bảy tháng đầu năm 2013 dự kiến đạt hơn 48 tỉ đô la Mỹ, chiếm 66% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nếu không tính dầu thô, xuất khẩu của khu vực này gần 44 tỉ đô la Mỹ, tăng hơn 26% so với cùng kỳ năm 2012 và chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tính chung bảy tháng đầu năm 2013, khu vực FDI xuất siêu 6,9 tỉ đô la Mỹ, trong khi cả nước nhập siêu 733 triệu đô la.

Một nghiên cứu của Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Tất Thắng cho biết khu vực FDI đang chiếm 100% sản lượng một số sản phẩm công nghiệp như dầu khí, ô tô, máy giặt, máy điều hòa, tủ lạnh, điện tử; 60% cán thép; 28% xi măng; 33% máy móc thiết bị điện, điện tử; 25% thực phẩm đồ uống… Ông Thắng nhận xét: “FDI đã góp phần tạo nên những thành công của đổi mới kinh tế, góp phần không thể thiếu trong việc tạo ra diện mạo kinh tế Việt Nam hiện nay”.

Tư Hoàng

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới