Chủ Nhật, 16/06/2024, 20:17
30 C
Ho Chi Minh City

Giải pháp nào cho an ninh lương thực?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Giải pháp nào cho an ninh lương thực?

Huỳnh Biển

ĐBSCL là nơi chiếm 52% diện tích đất lúa của cả nước, là khu vực có diện tích đất lúa giảm nhiều nhất. Ảnh TL.

(TBKTSG Online) – Bên cạnh diện tích trồng lúa ngày càng giảm do phát triển công nghiệp, mở rộng đô thị, sự biến đổi khí hậu toàn cầu được dự báo sẽ khiến ĐBSCL – vùng lúa lớn nhất Việt Nam – bị ngập lụt, nhiễm mặn, dẫn đến an ninh lương thực (ANLT) quốc gia bị đe dọa. Các nhà khoa học, nhà quản lý đang đi tìm giải pháp cho chiến lược bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong thời gian tới,

>> Cần giữ ổn định 3,2 triệu héc-ta lúa nước

>> An ninh lương thực: không nên mơ hồ  

Diện tích lúa giảm trong khi nhu cầu lương thực tăng

Bộ NN-PTNT cho biết tổng diện tích đất trồng lúa trong cả nước năm 1995 có hơn 4,3 triệu héc ta. Nhưng từ năm 2000 đến nay, hàng năm diện tích đất lúa giảm 1%. Giảm mạnh nhất là giai đoạn 2000 – 2005, hơn 302 ngàn héc ta. Từ năm 2005 đến nay, diện tích đất lúa tiếp tục giảm khoảng 60 ngàn héc ta nữa. Diện tích đất lúa chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản chiếm nhiều nhất với 220 ngàn héc ta, kế đến là đất phi nông nghiệp 105 ngàn héc ta.

Mặc dù diện tích đất lúa giảm như vậy nhưng sản lượng lúa vẫn tăng. Từ gần 25 triệu tấn vào năm 1995 tăng lên hơn 32 triệu tấn vào năm 2000. Đến năm 2008, sản lượng lúa cả nước đạt đến 38,6 triệu tấn. Các chuyên gia nông nghiệp cho biết nguyên nhân diện tích đất lúa giảm nhưng sản lượng lúa tăng là do thâm canh, tăng vụ, áp dụng công nghệ, lai tạo giống đem lại năng suất cao hơn.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng không thể nào tăng năng suất cao được mãi. Diện tích đất lúa giảm, năng suất không tăng được nhiều nữa và biến đổi khí hậu sẽ làm ảnh hưởng nhiều đến sản lượng lúa trong khi đó dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu lương thực càng nhiều hơn.

Theo dự báo đến năm 2020, dân số nước ta vượt qua con số 100 triệu người. Lúc đó, tổng nhu cầu sản lượng lúa đến hơn 35 triệu tấn, xuất hiện nhiều nguy cơ đe doạ đến ANLT. Vì vậy, vấn đề chiến lược đảm bảo ANLT hiện nay trở nên cấp bách.

Cần những giải pháp đồng bộ

Ngoài vai trò là nguồn lương thực chính, trong nhiều năm qua lúa gạo đã góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam.

Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), cho biết: “Yêu cầu về đất lúa tối thiểu được tính toán trên cơ sở nhu cầu lúa qua các năm, khả năng tăng vụ và năng suất lúa dự kiến qua các thời kỳ và dự phòng thiên tai, mất mùa khoảng 10% thì đất lúa tối thiểu để duy trì năng lực sản xuất lúa gạo đáp ứng nhu cầu vào năm 2010 là hơn 3,6 triệu héc ta; năm 2020 là hơn 3,5 triệu héc ta và năm 2030 là 3,2 triệu héc ta”.

Mặc dù mục tiêu cụ thể là như vậy nhưng để thực hiện được mục tiêu đó là một bài toán khó. Theo TS Nguyễn Văn Ngãi (Đại học Nông Lâm TPHCM), không đảm bảo ANLT sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chính trị và xã hội; tuy nhiên, nếu quá lo lắng về ANLT, ưu tiên nhiều nguồn lực để sản xuất lương thực trong nước vì mục tiêu ANLT thì cái giá phải trả về kinh tế là không tránh khỏi.

Ông Ngãi cho rằng, nếu cố gắng gìn giữ đất lúa, không cho chuyển đất lúa sang các cây trồng vật nuôi khác thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng trong ngành nông nghiệp và như vậy là ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nói chung.

Còn TS Nguyễn Thế Bình (Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp) nói: “Việc quy hoạch sản xuất lúa ở ĐBSCL không thể cứng nhắc, mà theo phương án có tính chất mở, mềm dẻo; tùy thuộc vào thị trường trong và ngoài nước, diễn biến của giá cả để có thể điều chỉnh tăng giảm hàng năm với mức độ khoảng 5 – 10% diện tích cũng như sản lượng theo những tình huống cụ thể”.

Lãnh đạo các địa phương, Sở NN-PTNT các tỉnh, thành ĐBSCL lại cho rằng không nhất thiết là phải giữ đất lúa mà phải biết khai thác lợi thế tiềm năng. Vì ĐBSCL được xem là vùng có tiềm năng đa dạng phát triển lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái, các cây công nghiệp lấy nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

ĐBSCL là nơi chiếm 52% diện tích đất lúa của cả nước, là khu vực có diện tích đất lúa giảm nhiều nhất, hơn 205 ngàn héc ta, chiếm 57% tổng diện tích đất lúa giảm toàn quốc. Trong đó, Cà Mau là tỉnh có diện tích đất lúa giảm mạnh nhất. Từ cuối năm 2000, Cà Mau đã chuyển đổi trên 150 ngàn héc ta đất trồng lúa và đất vườn sang nuôi trồng thủy sản.

Ông Nguyễn Xuân Hồng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, kiêm Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau, cho biết tỉnh này đã chuyển đổi hơn 150 ngàn héc ta đất lúa và vườn sang nuôi trồng thủy sản, nâng diện tích nuôi trồng thủy sản lên hơn 290 ngàn héc ta. Hầu hết các vùng chuyển đổi sang nuôi thủy sản đều có hiệu quả cao hơn trồng lúa, thu nhập bình quân trên một đơn vị diện tích cao gấp khoảng 2 lần so với trước khi chuyển đổi sản xuất.

Ông Hồng nói: “Vấn đề ANLT là rất cần thiết nhưng phải kết hợp với khai thác lợi thế. Để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất lúa, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia, Nhà nước phải ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy lợi nhằm chủ động tưới tiêu cho các vùng trồng lúa để nâng cao hiệu quả sản xuất và khuyến khích người trồng lúa”

Theo ông Hồng cũng như ý kiến các chuyên gia, các nhà quản lý nói trên, chiến lược đảm bảo ANLT phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Vừa giữ diện tích đất trồng lúa, vừa đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, kiểm soát tăng dân số, có chính sách hỗ trợ cho người trồng lúa, quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất lúa, dự báo nhu cầu lương thực, ứng phó với ảnh hưởng của biến đối khí hậu… mới kỳ vọng giữ vững diện tích trồng lúa, tăng sản lượng đáp ứng nhu cầu lương thực quốc gia.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới