Thứ Bảy, 15/06/2024, 10:58
31.2 C
Ho Chi Minh City

Đừng quên Việt Nam đã là một phần của kinh tế toàn cầu (*)

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Đừng quên Việt Nam đã là một phần của kinh tế toàn cầu (*)

Một cửa hàng bán lẻ của Công ty May 28 tại TPHCM – Ảnh: Thanh Tùng.

LTS: Từ bài viết “Quay về thị trường trong nước: Chậm còn hơn không” trong diễn đàn: Xoay xở trong cơn suy thoái, bạn đọc Đoàn Tiểu Long có thêm ý kiến “Đừng phân biệt thị trường trong và ngoài nước”, sau đó rất nhiều bạn đọc đã có thêm ý kiến, tòa soạn xin giới thiệu ý kiến của bạn đọc Thanh Hải.

Cám ơn tác giả Đoàn Tiểu Long đã đưa ra một góc nhìn khác, dù đúng hay sai, cũng như các bạn đọc đã tham gia trao đổi ý kiến. Với trao đổi của bạn Anh Dũng, tôi xin có một vài ý kiến nho nhỏ thế này.

1. Bạn cho rằng tác giả Đoàn Tiểu Long so sánh làng Bát Tràng với nền kinh tế Việt Nam là khập khiễng, hài hước. Tôi thì không thấy thế. Nếu bạn cho rằng Bát Tràng có thể coi là một cá thể kinh tế (trong nền kinh tế quốc dân) thì tại sao lại không thể coi Việt Nam là một cá thể kinh tế trong nền kinh tế toàn cầu? Mấu chốt ở chỗ, cầu về đồ gốm ở ngay tại làng Bát Tràng có tí chút, thì họ phải tiêu thụ ở các nơi khác, chẳng khác gì ngành dệt may Việt Nam có khả năng sản xuất hàng trăm triệu bộ quần áo, trong khi cầu của toàn dân chỉ hơn trăm triệu bộ, thì phải lo tiến ra thị trường thế giới là đúng rồi. Hệ thống phân phối có hoàn hảo đến mấy thì cũng không thể tiêu thụ hơn tổng cầu được.

Việc ta xuất khẩu nông sản, quần áo, rồi lại nhập hoa quả, quần áo, thì chỉ càng chứng tỏ luận điểm của tác giả Đoàn Tiểu Long là đúng, đó là: thị trường Việt Nam chỉ là một bộ phận của một thị trường chung, và sản xuất cái gì, bán ở đâu hoàn toàn do hiệu quả kinh tế quyết định. Nếu người dân Bát Tràng hứng lên mua đồ gốm Bình Dương thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Điều này thì lý luận về lợi thế cạnh tranh đã chỉ ra từ lâu rồi mà. Ngoài ra, bài phỏng vấn ông Trương Đình Tuyển và bài của tác giả Đoàn Tiểu Long đều chỉ nói đến khía cạnh kinh tế, bạn lại lôi những chính trị, văn hóa… vào thì xem ra hơi buồn cười, lạc đề.

2. Khi bạn viết: “Lao động cực nhọc như công nhân Việt Nam mà được hưởng lương thấp hơn bộ phận ngồi văn phòng thì chứng tỏ hiệu quả (giá trị gia tăng) là rất thấp”, thì chính là bạn đang lẫn lộn “giá trị gia tăng” với “giá trị sức lao động” đấy! Lao động của công nhân là lao động giản đơn, còn lao động của nhân viên văn phòng được coi là lao động phức tạp; sức lao động của hai loại người lao động này có giá trị khác nhau, thể hiện ra là tiền lương khác nhau (hy vọng là bạn hiểu rõ khái niệm “giá trị sức lao động”).

Giá trị của sức lao động tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, địa lý, xã hội v.v. Vì thế cùng một công việc, với cùng một kết quả, người lao động tại Việt Nam được trả lương thấp hơn người lao động tại Ý, tuy “giá trị gia tăng” họ tạo ra là như nhau. Không thể dựa vào tiền công mà phán xét về cái gọi là “giá trị gia tăng” được!

Giả dụ một ông chủ doanh nghiệp giày của Ý thuê người Ý thiết kế và sản xuất 100 ngàn đôi giày/tháng, thì có lẽ ông ta phải thuê 2 người thiết kế mẫu mã (designer) lương 5.000 đô la Mỹ/người/tháng, và 100 công nhân lương 1.000 đô la Mỹ/người/tháng. Tổng chi phí cho nhân công là 110.000 đô la Mỹ. Nếu ông ta chuyển giao công đoạn thiết kế cho người Việt Nam làm, có lẽ ông ta chỉ phải trả 1.000 đô la Mỹ cho 2 designer người Việt, tiết kiệm được 9.000 đô la. Nhưng nếu ông ta chuyển giao công đoạn gia công cho người Việt làm, thì ông ta chỉ phải trả phí gia công 10.000 đô la (lương của 100 công nhân Việt), tiết kiệm được 90.000 đô la. Trong cả hai trường hợp, giá trị đôi giày là không thay đổi. Bởi vậy giao công đoạn đòi hỏi nhiều sức lao động cho những nước nghèo thực hiện rõ ràng lợi hơn rất nhiều. Trong mắt chủ doanh nghiệp, ông ta chỉ nhìn thấy có chi phí đầu vào và doanh thu đầu ra, chứ ông ta chẳng phân biệt công đoạn nào tạo ra giá trị gia tăng nhiều còn công đoạn nào thì ít.

Tỷ lệ nhân công giữa các công đoạn hoàn toàn mang tính kỹ thuật, do trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất quyết định. Cứ cho rằng công đoạn thiết kế tạo ra giá trị gia tăng cao như M. Porter nói đi, thì ông chủ nọ cũng không thể thuê số designer quá mức cần thiết được, ví dụ 50 designer/100 công nhân. Cái ông ta quan tâm nhất, ấy là làm sao tiết giảm chi phí tối đa, nhờ đó tăng sức cạnh tranh và lợi nhuận.

Chính vì thế ông ta chuyển giao công đoạn gia công trước tiên, chứ không phải vì công đoạn đó tạo ra “giá trị gia tăng” thấp khiến ông ta chán. Nếu công đoạn thiết kế mà designer Việt Nam đảm trách được, ông ta cũng thuê ngay chứ chẳng khư khư giữ lại công đoạn đó cho đất nước thân yêu hình chiếc ủng của mình. Và nếu designer Việt Nam giành được công đoạn thiết kế, thì kinh tế Việt Nam cũng chỉ kiếm thêm được 1.000 đô la mà thôi, chứ không phải 10.000 đô la đâu. Như thế theo tôi, tác giả Đoàn Tiểu Long đã vạch ra bản chất vấn đề, chứ không bị hiện tượng bề ngoài (giá gia công thấp) đánh lừa.

3. Hệ thống phân phối: theo tôi hiểu, vấn đề đang bàn ở đây là “Việt Nam có hệ thống phân phối hay không”, chứ không phải “hệ thống phân phối ở ta hiện đại, chuyên nghiệp hay lạc hậu, bát nháo”. Hàng triệu cửa hàng lớn nhỏ như tác giả Đoàn Tiểu Long nhắc tới, bao gồm cả các hệ thống siêu thị hiện đại, lẫn các cửa hàng tư nhân nhỏ lẻ, lẫn các mạng lưới phân phối của các doanh nghiệp lớn như xi măng, sắt thép, ô tô, xe máy v.v. Không hiểu sao bạn Anh Dũng lại đánh đồng tất cả những cái đó với “quán cóc”, và cho rằng đó không phải là hệ thống phân phối? Phải chăng theo ý bạn thì chỉ có những siêu thị như Metro, Big C mới là “hệ thống phân phối”? Cách hiểu “hệ thống phân phối” của bạn và một số người khác có lẽ quá hạn hẹp chăng?

Tôi không thấy tác giả Đoàn Tiểu Long đi ngược tiến trình phát triển như bạn nói, vì ông Long không hề nói rằng cần phát triển “quán cóc” thay cho siêu thị. Ông Long chỉ nói rằng Việt Nam có hệ thống phân phối chứ không phải không có, dù rằng nó còn lạc hậu. Vả chăng, đòi hỏi Việt Nam phải có ngay lập tức một hệ thống phân phối hiện đại như các nước phát triển thì đúng là ảo tưởng, lấy mong muốn thay cho hiện thực. Có lẽ chính vì thế mà ông Trương Đình Tuyển nói rằng ông thất bại chăng?

Bạn Anh Dũng nói rằng không một nước văn minh, một doanh nghiệp lớn nào chấp nhận kiểu đại lý, cửa hàng như thế. Thứ nhất, Việt Nam chưa phải là một nước văn minh bạn ạ; và các nước khác, trước khi trở thành văn minh, cũng đã phải trải qua một giai đoạn như nước ta hiện nay.

Thứ hai, các doanh nghiệp hiểu rõ điều đó, nên họ vẫn cứ chấp nhận các đại lý, cửa hàng như chúng ta thấy. Nếu không, các doanh nghiệp lớn như Unilever, P&G, Coca-cola v.v. tiêu thụ sản phẩm như thế nào? Bạn có biết rằng một tỷ trọng lớn sản phẩm của họ được tiêu thụ tại các tiệm tạp hóa nhỏ tí xíu nằm khắp các hang cùng ngõ hẻm không?

4. Tôi thấy tác giả Đoàn Tiểu Long có lý khi đưa ra cách nhìn khác về việc chúng ta xuất quặng sắt và nhập phôi thép về chế biến tiếp. Thực tế, các chuyên gia đã cảnh báo khá nhiều về việc các nước phát triển đang chuyển những công đoạn sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng, hủy hoại môi trường sang cho các nước đang phát triển.

Lẽ nào bạn Anh Dũng không biết điều đó? Nếu bạn cho rằng cứ tính các chi phí bảo vệ môi trường vào sản phẩm là xong, và nếu chết thì chết chung, thì việc gì các chuyên gia phải cảnh báo, và việc gì các nước phát triển phải chuyển các công đoạn đó cho các nước nghèo?

Gọi là có mấy ý kiến trao đổi, chắc cách nhìn của tôi còn nhiều hạn chế, mong được các bạn góp ý thêm.

THANH HẢI

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online từ ngày 24-2 đã mở diễn đàn “Xoay xở trong cơn suy thoái” ghi nhận ý kiến, suy nghĩ của các doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế cũng như các bài viết của phóng viên phản ánh tình hình khó khăn của doanh nghiệp và những đề xuất, kiến nghị có thể giúp doanh nghiệp trụ vững trong “cơn lốc” suy giảm kinh tế. Bài vở, ý kiến tham gia diễn đàn “Xoay xở trong cơn suy thoái” xin gửi về tòa soạn theo email: online@thesaigontimes.vn.

(*) Tựa do tòa soạn đặt

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới