Thứ Sáu, 14/06/2024, 11:50
33.9 C
Ho Chi Minh City

Đừng để nước đến chân…

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Đừng để nước đến chân…

Đến nay, mới chỉ có 19/97 công ty chứng khoán tách bạch tài khoản của nhà đầu tư tại các ngân hàng thương mại. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG) – Mặc dù chưa đánh giá được hết tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lên nền kinh tế nước ta, các thay đổi chính sách của nhiều nước trong thời gian gần đây cũng là những động thái buộc chúng ta phải nhìn lại việc giám sát hệ thống tài chính quốc gia.

>> Cơ quan giám sát tài chính: vai trò còn mờ nhạt

>> Siết đúng mức

Ảnh hưởng của “cơn bão” tài chính bên ngoài đến thị trường tài chính Việt Nam, dù ở mức độ nặng hay nhẹ, là không tránh khỏi. Tăng cường sức đề kháng cho thị trường ở thời điểm hiện nay là vô cùng cần thiết, thế nhưng các cơ quan quản lý thị trường lại tỏ ra khá chậm chạp trong việc này.

“Lỗ hổng” quản lý rủi ro chứng khoán

Thông báo mới nhất của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho biết, đến giữa tháng 10-2008 mới có 19/97 công ty chứng khoán tách bạch tài khoản của nhà đầu tư tại các ngân hàng thương mại.

Đa số các công ty chứng khoán vẫn đang quản lý số dư tiền trên tài khoản của nhà đầu tư, mà con số này lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Đây là sự chậm trễ đáng báo động bởi công ty chứng khoán quản lý một lượng tài sản lớn, nhưng chúng ta chưa hề có một quy định nào về quản lý rủi ro.

Trong khi quản lý rủi ro của ngân hàng được quy định rõ ràng, cụ thể như phải có vốn điều lệ bao nhiêu, tỷ lệ huy động bằng bao nhiêu lần vốn tự có, dư nợ bằng bao nhiêu lần vốn huy động, đầu tư vào doanh nghiệp tối đa bao nhiêu phần trăm vốn… thì quy định quản lý rủi ro chứng khoán chưa được chú trọng đúng mức (trừ quy định về vốn điều lệ).

Cho đến nay chưa hề có văn bản pháp quy nào điều chỉnh việc các công ty chứng khoán có chức năng tự doanh được vay đến mức nào để đầu tư; giá chứng khoán biến động đến mức nào thì phải trích dự phòng rủi ro; mức trích là bao nhiêu…

Khả năng các công ty chứng khoán sử dụng đòn bẩy tài chính là lớn. Chẳng hạn một công ty chứng khoán đã tự doanh 100% vốn tự có. Họ có thể thế chấp số chứng khoán sở hữu để vay vốn, đầu tư tiếp, quay nhiều vòng và nhiều lần. Khó có thể khẳng định rằng Bộ Tài chính đang nắm rõ mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của các công ty chứng khoán và doanh nghiệp tài chính!

Mãi đến gần đây vào tháng 5-2008, khi VN-Index giảm sâu, Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM mới có văn bản yêu cầu các doanh nghiệp niêm yết (trong đó có công ty chứng khoán) trích dự phòng giảm giá chứng khoán cho hoạt động đầu tư tài chính. Tuy nhiên mức độ trích ra sao, trích trong bao lâu thì chưa quy định cụ thể. Thành thử mạnh công ty nào công ty đó trích. Nhà đầu tư cũng không có điều kiện kiểm chứng mức trích dự phòng đã đủ chưa.

Bên cạnh đó cũng cần xem lại một vài quy định trong kế toán của Việt Nam. Thí dụ, trích dự phòng rủi ro chỉ áp dụng đối với các khoản đầu tư ngắn hạn, còn đầu tư dài hạn không phải trích. Mức đầu tư nào được cho là ngắn hạn – dài hạn không quy định rõ. Thế nên mới có chuyện nhiều doanh nghiệp, công ty chứng khoán chuyển các khoản đầu tư sang dài hạn để tránh phải trích dự phòng rủi ro. Có công ty tài chính đã chuyển hầu hết các khoản lỗ tự doanh sang đầu tư dài hạn, nên mức trích dự phòng giảm giá chứng khoán chỉ bằng 10% số lỗ tiềm năng.

Trên thực tế đang có không ít công ty chứng khoán lỗ, buộc phải đóng cửa chi nhánh, đại lý nhận lệnh, giảm số lượng và giảm lương nhân viên. Trong khi các ngân hàng thương mại có cơ chế kiểm soát đặc biệt và thanh khoản, khả năng chi trả được theo dõi sát sao, thì các công ty chứng khoán lại chưa được giám sát dưới góc độ này. Sáu tháng đầu năm có công ty chứng khoán công bố lỗ 324 tỉ đồng trên vốn điều lệ 450 tỉ đồng, nghĩa là lỗ hơn hai phần ba vốn, nhưng không có một cơ chế giám sát đặc biệt nào.

Cho dù việc trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán phụ thuộc vào thị trường và chỉ có tính chất tạm thời, cuối năm kiểm toán lại, song nếu chứng khoán chưa thể phục hồi vào cuối năm, thậm chí giảm sâu hơn hoặc giảm kéo dài, thì lỗ tạm thời trở thành lỗ thật. Lúc đó thì không phải chỉ nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu của công ty chứng khoán lỗ gánh chịu thiệt hại, mà còn ảnh hưởng tới những nhà đầu tư sử dụng dịch vụ như môi giới, tư vấn, repo… bị liên quan.

UBCKNN đã nhiều lần yêu cầu và tuần trước đã đòi hỏi các công ty chứng khoán thường xuyên báo cáo về dòng vốn của nhà đầu tư trong các tài khoản để có cơ sở giám sát. Song những đòi hỏi như vậy vẫn chưa đủ sức nặng cần thiết. Đã đến lúc cơ quan quản lý thị trường cần gấp rút xây dựng khung pháp lý chi tiết và cụ thể hơn đối với việc quản lý định chế chứng khoán. Trước mắt nên nghiên cứu việc tạm ngưng cấp phép cho các công ty chứng khoán mới và tập trung ban hành khung pháp lý giám sát và tăng cường giám sát các công ty đang hoạt động. Con số gần 100 công ty chứng khoán là quá nhiều so với số lượng tài khoản chứng khoán khoảng 350.000 được mở hiện nay.   

Ngân hàng đầu tư: chưa có nền

Trong khi ngân hàng thương mại được quản lý chặt chẽ, mảng ngân hàng đầu tư lại chưa có nền để hoạt động và do đó quản lý còn lỏng lẻo. Một số công ty chứng khoán đang hướng tới mô hình ngân hàng đầu tư và không ít ngân hàng đã xây dựng định hướng đi bằng hai chân: thương mại – đầu tư. Những năm gần đây sự tham gia của ngân hàng thương mại vào đầu tư là tương đối tích cực.

Thực ra mô hình ngân hàng đầu tư là cần thiết. Chứng khoán hóa hay sử dụng đòn bẩy tài chính để tạo vốn là các công cụ tài chính hiệu quả, nhưng để đảm bảo an toàn, điều trước tiên là phải quy định, đưa ra khung pháp lý để nó hoạt động và Nhà nước điều tiết. Các công cụ tài chính đang ngày càng trở nên tinh vi và có độ rủi ro cao nên không thể không quản lý chặt. Thiết nghĩ mô hình ngân hàng đầu tư cũng phải được quản lý dưới góc độ vốn; dự phòng rủi ro; các chỉ số an toàn…và được giám sát chặt, ít nhất cũng chặt như quản lý ngân hàng thương mại.

Ngân hàng Nhà nước đã có một bước đi kịp thời khi vừa hoàn tất và đang lấy ý kiến các ngành liên quan về dự thảo quy chế thành lập, hoạt động của công ty trực thuộc ngân hàng thương mại. Mô hình tập đoàn ngân hàng đang phát triển nhanh. Bốn ngân hàng quốc doanh và hai ngân hàng cổ phần đã công bố lập tập đoàn ngân hàng dù chưa được thừa nhận về mặt pháp lý (chưa có tư cách pháp nhân).

Nếu Nhà nước chưa có khung pháp lý và biện pháp hiệu quả để giám sát các ngân hàng trên phương diện hợp nhất, thì tác động trọng yếu của các thành viên trong tập đoàn (công ty liên doanh, liên kết, trực thuộc…) có thể gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng và các tổ chức tín dụng. 

Giám sát các công ty trực thuộc ngân hàng, trong đó có cả các công ty đầu tư, về mặt nào đó, cũng liên quan hoạt động đầu tư và chức năng đầu tư của ngân hàng. Việc giám sát ngân hàng đầu tư, như vậy, sẽ không chỉ từ phía Ngân hàng Nhà nước. Cần có sự phối hợp đồng bộ trong xây dựng khung pháp lý và giám sát của cả cơ quan quản lý tài chính – chứng khoán – ngân hàng. Nhìn rộng ra sẽ không thể xây nền và quản lý ngân hàng đầu tư một cách riêng rẽ. Nó đang đòi hỏi sự điều phối tổng thể của Nhà nước.

HẢI LÝ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới