Thứ Tư, 19/06/2024, 12:13
32.8 C
Ho Chi Minh City

ĐBSCL đối mặt nhiều tầng thách thức trong phát triển

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

ĐBSCL đối mặt nhiều tầng thách thức trong phát triển

Trung Chánh

(TBKTSG Online) – Trong quá trình phát triển, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang và sẽ còn tiếp tục đối mặt với rất nhiều thách thức, bao gồm ở cả ba cấp độ toàn cầu, khu vực và tại vùng, theo GS Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia.

ĐBSCL đối mặt nhiều tầng thách thức trong phát triển
ĐBSCL đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển. Trong ảnh là các chuyên gia trình bày tại hội thảo diễn ra từ 22 đến 23-4-2016 tại Cần Thơ. Ảnh: Trung Chánh

Tại hội thảo “Sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Kông” được tổ chức ở Thành phố Cần Thơ từ ngày 22 đến 23-4-2016, GS Nguyễn Ngọc Trân cho rằng hiện nay và thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu; một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng gây nên.

Cụ thể, theo ông Trân, thách thức toàn cầu đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. “ĐBSCL được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn nhất của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Trái đất càng ấm lên, băng tan càng nhanh, ĐBSCL càng phải đối đầu với ngập lụt, lún chìm, bờ biển bị xâm thực và mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn”, ông nói.

Theo ông Trân, trong bối cảnh bị đe dọa như ở trên, thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa buộc khu vực ĐBSCL phải nâng cao khả năng cạnh tranh và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu, nếu muốn phát triển.

Đối với thách thức khu vực, việc khai thác tài nguyên nước ở thượng nguồn sông Mê Kông để phục vụ cho các công trình thủy điện đã khiến ĐBSCL đối mặt với nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn ngày càng gia tăng.

Thực tế, thông tin từ Ủy hội sông Mê Kông (MRC) cho thấy, với sáu đập thủy điện của Trung  Quốc cộng 11 đập ở hạ lưu vực và 30 đập khác trên các chi lưu, nếu được xây dựng tất cả sẽ tích lại một lượng nước của sông Mê Kông vào năm 2030 lên đến 65,5 tỷ m3, trong khi đó, nhu cầu về nước ở hạ lưu vào năm 2030 tăng 50% so với năm 2000.

Ngoài ra, theo ông Trân, các đập thủy điện sẽ giữ lại trầm tích trong hồ, gây nên thâm hụt trong cán cân trầm tích ở ĐBSCL, làm thay đổi địa mạo lòng sông và cửa biển. “Sự sạt lở nghiêm trọng đê biển ở Gành Hào, đường phòng hộ ven biển ở Bạc Liêu mà tôi vừa có chuyến khảo sát cuối tháng Hai vừa qua là một minh chứng cụ thể”, ông cho biết.

Riêng đối với thách thức tại địa bàn, theo ông Trân, ngoài việc mất rừng ngập mặn và rừng tràm, thì việc khai thác cát trên sông Tiền, sông Hậu cũng khiến sự phát triển của ĐBSCL bị đe dọa. “Thách thức tại địa bàn còn là phát triển nông nghiệp thiên về chiều rộng hơn chiều sâu; thiên về số lượng hơn chất lượng dẫn đến lãng phí tài nguyên, nhất là tài nguyên đất và nước”, ông cho biết.

Theo ông Trân, thách thức tại địa bàn còn được thể hiện qua năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực thấp. “Các thách thức toàn cầu, khu vực và địa bàn không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn cho nên hậu quả của tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển của ĐBSCL”, ông Trân cho biết.

Một câu hỏi được đặt ra là ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung nên ứng phó thế nào trước những thách thức được nêu ra?

GS-TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường Đại học Nam Cần Thơ, cho biết trong bối cảnh các nước ở thượng nguồn sông Mê Kông tăng cường xây đập thủy điện khiến nguồn nước về ĐBSCL ngày càng hạn chế, thì khu vực này cần tính đến chuyện sử dụng nước ngọt tiết kiệm và linh hoạt.

“Đối với các tỉnh có nước ngọt quanh năm như An Giang, Đồng Tháp và một phần tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, thì những nơi này tập trung đầu tư cho cây lúa, nhưng sử dụng nước tiết kiệm hơn. Đối với vùng mặn, thì nên linh hoạt theo hướng đầu tư cho cây lúa trong mùa mưa và nuôi tôm trong mùa khô”, ông cho biết.

Theo kiến nghị của ông Trân, đã đến lúc sáu nước trong lưu vực phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm. Các bộ, Ủy ban sông Mê Kông quốc gia cùng các nhà khoa học cần phát hiện, theo dõi và đánh giá tác động của các dự án khai thác nguồn nước ở thượng nguồn khi vừa manh nha.

“Hơn bao giờ hết, trong bối cảnh mới, thì nhất thiết phải rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và các quy hoạch ngành, địa phương theo hướng phải tiết kiệm nước ngọt, chung sống với hạn mặn, khai thác nước mặn như là một tài nguyên thiên nhiên mà nhiều nước đã làm thành công”, ông gợi ý.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới