Thứ Ba, 18/06/2024, 10:39
32.3 C
Ho Chi Minh City

Công nghệ cao bắt đầu từ tư duy

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Công nghệ cao bắt đầu từ tư duy

Trình diễn công nghệ sản xuất mới tại một cuộc triển lãm thiết bị khoa học ở TPHCM. Hiện nay Việt Nam vẫn chưa có đột phá trong lĩnh vực công nghệ cao. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG) – Cuộc tọa đàm về Dự án Luật Công nghệ cao được Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với tạp chí Tia Sáng tổ chức tuần qua tại Hà Nội đã đưa ra những góc nhìn rộng hơn và những tư duy mới khi đối chiếu với hiện trạng phát triển công nghệ cao tại Việt Nam.

Công nghệ cao vẫn chưa hình thành

Cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có đột phá trong lĩnh vực công nghệ cao (CNC). Nhiều công trình nghiên cứu tuy đầu tư nhiều nhưng kết quả chưa áp dụng được vào đời sống, việc nghiên cứu nhiều lúc không gắn với mục tiêu kinh tế xã hội cụ thể. Bản thân việc nghiên cứu CNC chưa được xã hội hóa, các doanh nghiệp gần như không để ý đến nghiên cứu và phát triển (R&D).

Trong khi nguồn nhân lực CNC ở Việt Nam còn rất thiếu thì việc đào tạo nhân lực CNC vẫn chỉ có thể theo hình thức gửi đi học nước ngoài. Thời gian qua, thông qua chương trình đào tạo bằng ngân sách nhà nước (Chương trình 322), Việt Nam đã đào tạo được 1.740 cán bộ từ đại học trở nên. Thông qua Quỹ Giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ (VFF), chúng ta có thêm hơn 100 tiến sĩ và thạc sĩ. Nhưng không phải tất cả họ đều đang tham gia vào lĩnh vực CNC của đất nước.

Chính vì chương trình phát triển nhân lực cụ thể cho CNC chưa có nên tuy các trường đại học hiện nay đều có bộ môn hay khoa giảng dạy về công nghệ cao hay hẹp hơn là công nghệ thông tin nhưng đều chưa đáp ứng nhu cầu trong nước. Chất lượng đào tạo chạy sau nhu cầu thực tế. Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam không thể tìm đủ nhân lực về CNC.

Theo nhận định của Bộ KH&CN, nhu cầu ứng dụng CNC của Việt Nam còn nhỏ hẹp do quy mô nhỏ bé của nền kinh tế, nên lĩnh vực này chưa thoát khỏi tình trạng lạc hậu.

Các doanh nghiệp Việt Nam chưa có nhu cầu ứng dụng mạnh CNC và các doanh nghiệp lớn thì vẫn chủ yếu nhập khẩu dây chuyền thiết bị, tuy đồng bộ nhưng lạc hậu. Phần lớn các doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp ứng dụng CNC ở Việt Nam vẫn chỉ là lắp ráp. Với các doanh nghiệp FDI, cũng mới chủ yếu dừng ở việc thu hút vốn vào đầu tư thay vì thu hút công nghệ. Thành tựu CNC của Việt Nam, nếu có, cũng chủ yếu tập trung trong lĩnh vực CNTT.

Về quản lý nhà nước, quá trình cải cách hành chính trong lĩnh vực nghiên cứu KHCN và CNC diễn ra quá chậm chạp. Theo GS.TS. Nguyễn Thu Vân – Giám đốc Công ty Vaccine và Sinh phẩm số 1, các biện pháp để thúc đẩy nghiên cứu công nghệ cao như xây dựng phòng thí nghiệm hay cơ sở nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế đã được Bộ KH&CN thí điểm nhưng hiện đã dừng lại và chưa có tổng kết đánh giá hiệu quả.

Trong khi hạ tầng cho CNC chưa được cải thiện thì nhiều địa phương tiếp tục “phát triển CNC” theo kiểu phong trào. Trong giai đoạn vừa qua, để thu hút các dự án sản xuất sản phẩm CNC vào hai khu CNC Hòa Lạc và TPHCM, Bộ KH&CN cũng đã ban hành danh sách các sản phẩm CNC được khuyến khích đầu tư sản xuất. Song, đến nay, nhiều văn bản hiện hành về CNC lại chỉ tập trung vào các vấn đề của hai khu này mà rất khó ứng dụng với các nơi khác.

Những tư duy cần từ bỏ

Dự án Luật Công nghệ cao đang được trình lên Quốc hội. Dự thảo Luật đưa ra bốn lĩnh vực CNC sẽ được ưu tiên nghiên cứu phát triển và ứng dụng thời gian tới: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới và tự động hóa.

Theo GS. Vân, Việt Nam đi sau, không thể bắt đầu nghiên cứu CNC từ đầu mà phải biết tận dụng chuyển giao công nghệ hay các hình thức hợp tác, nhập khẩu công nghệ. Song, thực tế, bản thân công ty của bà đã ký kết với một số đối tác nước ngoài để thực hiện chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực y tế dự phòng nhưng gần như không thể thực hiện. “Khi chúng tôi muốn nhập khẩu các thiết bị công nghệ, bên Hải quan nhất quyết yêu cầu chúng tôi phải đi hỏi xem các cơ quan có xác nhận việc được nhập thiết bị ưu đãi thuế hay không”, bà Vân cho biết.

Bà nói thêm: “Chúng tôi muốn chuyển giao công nghệ, muốn tạo ra sản phẩm CNC nhanh nhưng không có điều kiện và bị ràng buộc bởi rất nhiều thủ tục. Tiến độ chuyển giao công nghệ của chúng ta rất chậm dù chúng ta luôn cố gắng thúc đẩy. Công ty Vaccine và sinh phẩm số 1 đầu tư 10% doanh thu cho hoạt động R&D, song việc chuyển giao công nghệ trong nước cũng rất khó khăn”. Theo bà Vân, Nhà nước nên có ưu đãi cho các doanh nghiệp, cá nhân trong lĩnh vực CNC.

Thực trạng ốm yếu của ngành CNC trong nước, theo TS. Nguyễn Quang A là do chúng ta chưa từ bỏ được nhiều kiểu tư duy cần từ bỏ. Việc nhiều đơn vị, địa phương luôn đòi ưu đãi là một ví dụ. Theo ông, điều Nhà nước cần làm là tạo cơ chế thật thông thoáng cho những viện nghiên cứu và doanh nghiệp có nghiên cứu công nghệ. “Nhà nước không nên chú trọng vấn đề ưu đãi hay hỗ trợ mà nên tạo ra môi trường khuyến khích để các doanh nghiệp huy động hết mọi nguồn lực cho CNC”, ông A phát biểu.

Kể cả với nguồn nhân lực, nên xã hội hóa bằng cách tạo ra môi trường khuyến khích chứ không phải những ưu đãi, để bản thân các cơ sở nghiên cứu, các doanh nghiệp biết cách đào tạo, khai thác nhân lực CNC cho tốt mới là vấn đề chính chứ không thể dựa dẫm vào Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngay cả với các nhà khoa học chân chính, cái họ cần là Chính phủ cho họ điều kiện tốt để phát huy năng lực và thực hiện đam mê.

PGS.TS. Trần Đức Viên – Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp I – cho rằng CNC hiểu nôm na là sản xuất ra tất cả những quả cà chua cùng kích cỡ để thuận tiện cho việc tiêu thụ hay xuất khẩu. CNC là đôi cánh công nghiệp hóa nông thôn, bảo vệ môi trường, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm. Song ông băn khoăn về tư duy về CNC của chúng ta hiện nay. Việt Nam hiện có chín tỉnh có CNC (Đồng Nai, Hải Dương, Hải Phòng, TPHCM, Hà Nội…) với 21 khu CNC. Song, nếu đặt ra mục tiêu đến năm 2010 có 160 mô hình công nghệ cao quả là viễn tưởng bởi với nước Mỹ, sau 40 năm mới chỉ có khoảng 100 khu CNC thôi.

Theo PGS. Viên, “hai vấn đề của tư duy CNC cần cảnh giác là phát triển CNC theo phong trào và tư tưởng về sản xuất lớn. Thứ nhất, bản thân chính sách ưu đãi chính là sự chia sẻ với rủi ro của những người làm công nghệ, song nhiều địa phương kêu gọi được đầu tư CNC chỉ nhằm trông chờ vào tiền ưu đãi hỗ trợ của Nhà nước. Thứ hai, trong nông nghiệp, cần phân biệt rõ sản xuất tập trung và sản xuất lớn. Sản xuất nông nghiệp CNC tập trung mới là hướng đi thích hợp của những vùng ven đô trước mắt bởi không có đất rộng, cần tạo công việc cho người ven đô và tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm CNC vào nội thành để đến với những khách hàng tiềm năng”. Ông Viên cho rằng, trước mắt, những loại hình nông nghiệp ứng dụng CNC nên được phát triển ở những vùng ven đô là hoa cắt cành, rau an toàn, cây ăn quả, thủy sản và chăn nuôi.

Việc kiểm soát đồng vốn đối với CNC cũng là vấn đề cần thiết. CNC không phải là công nghệ cho nhà giàu mà nhằm nâng cao chất lượng song song với giảm giá thành. “Trừ Đà Lạt Hasfarm, có thể nói các đơn vị đang ứng dụng CNC đều chưa đạt tiêu chí này nên CNC ở Việt Nam vẫn chỉ là công nghệ cho nhà giàu chứ không phải cho dân thường vì giá thành quá cao. Điều này đi ngược lại mục đích chung của CNC”, ông Viên nói.

HỒNG PHÚC

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới