Thứ Ba, 21/05/2024, 07:18
33 C
Ho Chi Minh City

Con đường chông gai

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Con đường chông gai

Nguyễn Thy Nhân (*)

Con đường chông gai
Minh họa: Khều.

(TBKTSG) – Tuần rồi, Chính phủ đã cho ra đời Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) bằng Nghị định 53/2013/NĐ-CP nhằm giải quyết tình trạng nợ xấu đang ở mức cao của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, sự thành công của VAMC là một câu hỏi lớn, phụ thuộc chủ yếu vào khung pháp lý, hiệu quả của các giải pháp xử lý nợ, năng lực của VAMC và điều kiện thị trường.

>>> VAMC và khoảng cách còn lại

>>> Những băn khoăn

VAMC – công ty nhận chuyển giao nợ

Theo Nghị định 53, VAMC với vốn điều lệ 500 tỉ đồng sẽ phát hành trái phiếu không lãi suất thời hạn tối đa năm năm (trái phiếu đặc biệt) để đổi lấy nợ xấu bằng giá trị sổ sách (đã trừ dự phòng) của các ngân hàng, bên cạnh việc mua một phần nợ xấu theo giá thị trường từ nguồn vốn khác của VAMC. Sau đó, VAMC xử lý nợ xấu qua bốn hình thức chính là thu hồi nợ, xử lý tài sản đảm bảo, bán nợ, và tái cấu trúc bên đi vay.

Trong khi đó, các ngân hàng có thể dùng các trái phiếu đặc biệt làm tài sản đảm bảo để đi vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đồng thời phải trích lập dự phòng ít nhất 20% giá trị trái phiếu vào các báo cáo tài chính hàng năm. Điều này có nghĩa rằng, thay vì phải ghi nhận lỗ từ các khoản nợ xấu ngay lập tức, các ngân hàng có thể “phân bổ” thiệt hại này trong năm năm, với hy vọng thu hồi được nợ xấu khi kinh tế phục hồi và sức khỏe tài chính của các bên đi vay tốt hơn. Đây thực sự là một cuộc chuyển giao nợ xấu để tạm thời làm đẹp các báo cáo ngân hàng, đưa mức nợ xấu xuống 3%, mức được các nhà quản lý cho là “an toàn”. Nếu xử lý được nợ, VAMC nhận một phần và trả phần còn lại cho ngân hàng, sau khi trừ các chi phí. Tuy nhiên, VAMC không thực sự sở hữu các khoản nợ xấu mà có thể trả lại các khoản nợ xấu nếu không xử lý được cho đến khi trái phiếu đặc biệt đến hạn. Khi đó, các ngân hàng trả lại trái phiếu đặc biệt và nhận lại nợ xấu, lúc này được để ngoài bảng cân đối vì các trái phiếu đã được dự phòng toàn bộ khi đáo hạn.

Trong quá trình xử lý nợ xấu, bốn công ty quản lý tài sản của Trung Quốc tập trung tái cấu trúc hoạt động của các bên đi vay, chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước. Đây là sự lựa chọn sai lầm khiến việc xử lý nợ xấu bị thất bại bởi vì các con nợ khó xoay chuyển và mục tiêu tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước có nhiều điểm trái ngược với mục tiêu xử lý nợ xấu. Thái Lan cũng tập trung vào hoạt động tái cấu trúc các con nợ nhằm thu hồi nợ xấu để rồi nhận được kết quả là tỷ lệ thu hồi thấp và tốn nhiều thời gian. Trong khi đó, KAMCO của Hàn Quốc lại thành công khi mạnh tay xử lý nợ xấu thông qua đấu giá, thanh lý tài sản và chứng khoán hóa.

Do đó, việc chuyển đổi này chưa thể thực sự làm cho hệ thống ngân hàng tốt hơn vì nợ xấu thực chất được chuyển đổi thành các trái phiếu xấu với rủi ro tài sản không thay đổi. Trong khi đó, nguồn tiền vay tái cấp vốn bằng trái phiếu đặc biệt sẽ không còn quá quan trọng trong điều kiện thanh khoản tốt hơn và hoạt động cho vay chưa khôi phục.

Phụ thuộc, quyền lực thấp, và không có động lực mạnh

VAMC sẽ là một công ty trực thuộc NHNN, cổ đông duy nhất quyết định việc quản trị, bổ nhiệm các thành viên hội đồng quản trị và hoạt động của tổ chức này. Điều này có nghĩa VAMC là một cơ quan dưới bộ, không trực thuộc Quốc hội, có thể không có đủ quyền lực cần thiết và không chịu sự giám sát cấp Quốc hội để xử lý nợ xấu một cách triệt để và thành công.

Ở Hàn Quốc, nước được cho là thành công trong việc xử lý nợ xấu ở châu Á, Công ty Quản lý tài sản quốc gia KAMCO được Ủy ban Quản lý Tài chính (FSC) của Quốc hội nước này giám sát, với 11 thành viên hội đồng quản trị đến từ Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch, Ngân hàng Phát triển, Bảo hiểm tiền gửi và các chuyên gia khác. Chính mô hình này đã đóng vai trò nền tảng giúp Hàn Quốc giảm nợ xấu từ 17% năm 1998 xuống còn 2,3% vào năm 2002 với tỷ lệ thu hồi đến 47% so với trung bình 20-30% ở các nước. Trong trường hợp VAMC, Bộ Tài chính chỉ hướng dẫn các chế độ kế toán trong khi các bộ khác đóng vai trò hỗ trợ, để một mình NHNN xử lý vấn đề gai góc tầm quốc gia.

Về thực chất, VAMC chỉ giúp tạm thời đưa nợ xấu ra khỏi bảng cân đối tài sản của các ngân hàng và không thực sự sở hữu số nợ xấu này vì có quyền trả lại cho các ngân hàng phần nợ xấu không xử lý được khi trái phiếu đặc biệt đáo hạn. Một mặt, VAMC không chịu các rủi ro liên quan đến sở hữu nợ xấu do không thực sự bỏ tiền ra mua, mặt khác lại không có động lực đủ mạnh để xử lý nợ. Do đó, kiểu thiết kế tài chính này khó mang lại thành công nếu muốn xử lý nợ xấu thực sự.

Cùng với việc quy định lập dự phòng trái phiếu đặc biệt trong năm năm, hy vọng thu hồi nợ khi kinh tế phục hồi, Nghị định 53 đề cập nhiều đến việc tái cấu trúc con nợ như một phương pháp xử lý chính. Nguy hiểm hơn là VAMC còn được tham gia sâu hơn vào quá trình này khi có thể cho vay thêm hoặc bảo lãnh vay vốn đối với các con nợ “có khả năng phục hồi tốt”. Đây là rủi ro lớn và VAMC không nên dùng phương pháp tái cấu trúc này vì quá trình sẽ rất tốn kém, mất nhiều thời gian, và khả năng thành công sẽ rất thấp trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay cũng như mức độ phức tạp của nhiều bên đi vay rất khác nhau.

Con đường chông gai

Để đảm bảo quá trình xử lý nợ xấu thành công, có lẽ nên thiết kế lại khung pháp lý để đảm bảo VAMC ít nhất phải là cơ quan liên bộ chịu sự giám sát của Quốc hội; xác định công khai quy mô chuyển nợ bằng trái phiếu đặc biệt và quy mô mua nợ theo giá thị trường bằng nguồn vốn khác. Song song đó, Quốc hội nên sửa đổi và cải thiện Luật Phá sản để làm nền tảng tốt cho hoạt động thu hồi nợ và xử lý tài sản đảm bảo. Đồng thời, VAMC không nên lựa chọn phương pháp tái cấu trúc con nợ mà cần tập trung vào mua bán nợ và xử lý tài sản đảm bảo.

Ngoài ra, NHNN không nên hoãn thi hành Thông tư 02//2013/TT-NHNN về phân loại nợ xấu, vì đây sẽ là cơ sở để phân loại nợ xấu ở mức hợp lý nhất. Đồng thời NHNN nên yêu cầu các ngân hàng bổ sung vốn chủ sở hữu hàng năm theo kỳ hạn trái phiếu đặc biệt, đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn (CAR); thiết lập các tiêu chí đánh giá hiệu quả hàng năm của VAMC, nhằm giải quyết vấn đề thiếu động lực nêu trên, đảm bảo tính minh bạch của VAMC.

_____________________________________________________

(*) Giám đốc nghiên cứu VietFund Management

Bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của VietFund Management

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới