Thứ Năm, 20/06/2024, 09:02
28.9 C
Ho Chi Minh City

Cổ phần hóa DNNN vì sao chậm?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Cổ phần hóa DNNN vì sao chậm?

Ông Vũ Xuân Tiền (phải) đang cùng phóng viên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trả lời bạn đọc – Ảnh: HẠNH LIÊN

(TBKTSG Online) – Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hiện đang bị chậm lại do nhiều nguyên nhân, là chuyên gia trong lĩnh vực này, ông Vũ Xuân Tiền đã trả lời hầu hết các thắc mắc của bạn đọc giao lưu trực tuyến.

>> Cổ phần hóa DNNN vẫn lúng túng

>> Vẫn phải thúc đẩy cổ phần hóa

Trung Thành: Tôi được biết ông có rất nhiều bài báo nói về cổ phần hóa và đã tư vấn thành công cho rất nhiều doanh nghiệp. Với vai trò là nhà tư vấn, ông thường đặt lợi ích kinh tế của nhà nước hay là quyền lợi của người lao động khi tư vấn cổ phần hóa cho lãnh đạo các doanh nghiệp?

Ông Vũ Xuân Tiền: Tôi cho rằng, về cơ bản không có sự mâu thuẫn giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người lao động. Tuy nhiên, do cách “vận dụng sáng tạo” ở một số DNNN, đã xuất hiện một số trường hợp xâm phạm đến lợi ích của người lao động như việc xác định danh sách lao động dôi dư theo Nghị định 41/NĐ-CP trước đây và việc xác định số cổ phần ưu đãi họ được mua. Trong những trường hợp như vậy tôi thường quan tâm giải quyết triệt để quyền lợi của người lao động để họ yên tâm, tránh những khiếu kiện không cần thiết khi tiến hành cổ phần hóa.

Đức Minh: Theo ông, tốc độ cổ phần hóa có liên quan đến tình hình lên xuống của thị trường chứng khoán? Khi thị trường chứng khoán rớt giá liên tục, chúng ta có nên chủ động làm giảm tốc độ cổ phần hóa để tránh thất thoát tài sản của nhà nước hay không?

Ông Vũ Xuân Tiền: Tôi cho rằng chúng ta không thể gắn việc cổ phần hóa các DNNN với sự “nóng, lạnh” bất thường của thị trường chứng khoán. Bởi lẽ, mục tiêu cơ bản của cổ phần hóa là chuyển đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp để tạo ra một sự năng động hơn, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp chứ không phải thông qua cổ phần hóa để “thu lãi” trong việc bán doanh nghiệp.

Vì vậy, không nên thấy thị trường chứng khoán trầm lắng thì giãn tiến độ cổ phần hóa. Nếu chúng ta xác định giá trị doanh nghiệp đúng thì chúng ta bán cổ phần theo đúng  mệnh giá, Nhà nước cũng đã thu được phần vốn của mình và mục đích của cổ phần hóa đã đạt được.

Đồng thời, cũng không nên quy định bắt buộc đã cổ phần hóa thì phải tham gia niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán. Sau khi cổ phần hóa, công ty cổ phần mới được thành lập có thể là công ty cổ phần nội bộ và khi nào trở thành công ty đại chúng, khi nào tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán là do Đại hội cổ đông của công ty quyết định.

Mỹ Phước: Trong quá trình tư vấn cổ phần hóa cho các doanh nghiệp nhà nước, theo ông khó nhất là các mối quan hệ chồng chéo giữa lãnh đạo doanh nghiệp và cơ quan chủ quản hay là tình hình tài chính không rõ ràng của doanh nghiệp?

Ông Vũ Xuân Tiền: Tôi nghĩ là có cả hai nguyên nhân trên. Trước hết là mối quan hệ giữa lãnh đạo doanh nghiệp và cơ quan chủ quản. Phần lớn những công việc cần thiết để chuẩn bị cổ phần hóa thì lãnh đạo doanh nghiệp không có quyền quyết định mà phải xin ý kiến của các cơ quan chủ quản nên kéo dài thời gian.

Trong một số trường hợp xuất hiện những bất đồng về quan điểm và không có người làm trọng tài. Điều này xảy ra rất rõ khi cổ phần hóa các công ty thành viên thuộc một Tổng công ty. Vấn đề tình hình tài chính không rõ ràng phần lớn thể hiện ở không xác minh được các khoản nợ phải thu và các nợ phải trả. Đây là nguyên nhân của lịch sử. Có những khoản nợ phải thu cách đây 1 thập kỷ thì không còn hồ sơ nữa.

Trần Thanh Toàn: Theo đánh giá của ông, hiệu quả kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận/doanh thu và trên vốn của các tập đoàn kinh tế dân doanh so với hiệu quả các tập đoàn kinh tế nhà nước như thế nào, ai hơn ai? Ông có thể đưa ra ví dụ trong cùng một ngành nghề kinh doanh mà ông biết hay không?

Ông Vũ Xuân Tiền: Có thể khẳng định rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tập đoàn kinh tế tư nhân cao hơn rất nhiều so với các tập đoàn kinh tế nhà nước. Điều đó biểu hiện ở chỗ khi thi công xây dựng công trình họ làm với một tốc độ rất nhanh và hạn chế rất nhiều những thất thoát.

Tôi đã làm tư vấn cho Tập đoàn Thép Vạn Lợi và tôi thấy một nhà máy sản xuất phôi thép có công suất 300.000 tấn/năm họ hoàn thành trong thời hạn 6 tháng. Với một tập đoàn kinh tế nhà nước để hoàn thành công trình tương tự chắc chắn nhanh nhất phải mất 2 năm. Ngoài ra, chúng ta có thể so sánh suất đầu tư/đơn vị công suất. Đáng tiếc đây là một chỉ tiêu không được chủ đầu tư cho phép công bố nhưng tôi khẳng định suất đầu tư của tập đoàn tư nhân chỉ bằng 60% suất đầu tư của tập đoàn nhà nước.

Minh Quoc: Trong bài viết trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tiến sỹ Nguyễn Quang A có nói rằng không cần dùng Nghị định riêng để quản lý các tập đoàn. Song ông Quang A cũng nói rằng Nhà nước có thể áp dụng các quyền cho phép của chủ sở hữu để đưa ra các quy định riêng đối với các doanh nghiệp của mình. Ông có đồng ý với những ý kiến trên không? Tại sao?

Ông Vũ Xuân Tiền, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM, chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn về cổ phần hóa các doanh nghiệp – Ảnh: HẠNH LIÊN

Ông Vũ Xuân Tiền: Tôi đã đọc bài báo này và rất chia sẻ với Tiến sỹ Nguyễn Quang A về việc có nên ban hành nghị định riêng về quản lý Tập đoàn kinh tế Nhà nước hay không? Để trả lời câu hỏi này theo tôi lại cần phải giải đáp một câu hỏi khác: đó là chúng ta có cần quản lý các Tập đoàn kinh tế hay không?

Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu liên quan đến Tập đoàn kinh tế tại các nước phát triển, quan điểm của tôi về vấn đề này như sau:

– Tập đoàn kinh tế (TĐKT) không phải là một pháp nhân độc lập do đó không có nước nào trên thế giới ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để quản lý Tập đoàn.

– Nếu cần phải quản lý Tập đoàn, thì phải có một Nghị định quản lý TĐKT nói chung, không phân biệt là Nhà nước hay tư nhân. Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến phần vốn Nhà nước đầu tư vào các Tập đoàn chỉ cần một văn bản quy định phần vốn Nhà nước đầu tư vào các Tập đoàn và các doanh nghiệp khác.

– Nếu ban hành Nghị định về TĐKT Nhà nước thì vô hình chung là trở lại việc phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế và vi phạm nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xử trong Hiệp định gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Mỹ Phước: Theo ông trước khi cổ phần hóa có cần chuyển hết phần vốn của nhà nước từ các bộ, ngành, địa phương về cho Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), sau đó tổng công ty này sẽ đứng ra chịu trách nhiệm cổ phần hóa các doanh nghiệp rồi sau đó bán cổ phần ra bên ngoài hay không?

Ông Vũ Xuân Tiền: Về vai trò của SCIC, chúng ta đã biết. Và trình tự đúng của nó phải là: trước khi cổ phần hóa DNNN số vốn của các DNNN đang do các Bộ, ngành, địa phương quản lý được chuyển hết về SCIC. Sau đó, SCIC sẽ thực hiện việc cổ phần hóa phần vốn đó. Họ sẽ thu về cho Nhà nước phần mà Nhà nước không góp vốn vào doanh nghiệp cổ phần và SCIC cũng chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc định giá doanh nghiệp khi cổ phần. Tất nhiên là họ sẽ sử dụng các công ty kiểm toán và riêng trong vấn đề này tôi đề nghị kiểm toán nhà nước phải vào cuộc. Bởi lẽ, kiểm toán độc lập trong nước hiện nay đang hoạt động với 1 văn bản dưới Luật đó là Nghị định 105 và năng lực phần lớn là yếu.

Minh Quoc: Ông có đồng ý với phương án nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp cổ phần hóa bằng chính nguồn đất đai đang giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng và đầu tư hay không? Ông có gợi ý nào khác cho quá trình quản lý tài sản của nhà nước tại các doanh nghiệp?

Ông Vũ Xuân Tiền: Tôi cho rằng phương án Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp cổ phần hóa bằng chính giá trị sử dụng đất đang giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là có thể thực hiện được. Tuy nhiên, chúng ta cần có một Quy chế quản lý phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp và thông qua Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Khi đó, SCIC có vai trò như những cổ đông khác trong doanh nghiệp. Không thể sử dụng cơ quan quản lý hành chính với dấu ấn của cơ quan chủ quản hiện nay làm đại diện phần vốn trong doanh nghiệp. Và điều ấy đồng nghĩa với việc phải xóa bỏ nhanh cơ chế chủ quản với nhiều chồng chéo hiện nay.

Vu Binh Anh: Việc định giá một DNNN trước khi cổ phần hóa cũng là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Theo như tôi được biết thì nhiều doanh nghiệp cố ý định giá thấp để phục vụ cho những lợi ích riêng của một bộ phận nào đó. Theo ông vấn đề này được giải quyết thế nào để việc cổ phần hóa sẽ không làm thất thoát tài sản của Nhà nước?

Ông Vũ Xuân Tiền: Trong việc định giá DNNN trước khi cổ phần hóa chúng ta cần phải phân tích riêng từng bộ phận hình thành nên giá trị doanh nghiệp. Cụ thể là:

1. Xác định giá trị tài sản hữu hình còn lại của doanh nghiệp. Phần này về cơ bản không có sự thất thoát tài sản của Nhà nước vì tỷ lệ trích khấu hao tài sản cố định của những năm trước đây rất thấp. Cho nên giá trị còn lại của tài sản thường cao hơn rất nhiều. Hơn nữa, đó lại là những tài sản đã bị lạc hậu. Nên lấy giá trị sổ sách để định giá phần này thì Nhà nước không bị thiệt.

2. Giá trị của tài sản cố định vô hình mà chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị thương hiệu. Sự thất thoát tài sản Nhà nước thực ra nằm ở phần này là chính. Bởi lẽ về giá trị quyền sử dụng đất tôi đã trình bày ở câu trước. Còn về xác định giá trị của thương hiệu hoặc lợi thế thương mại thì đến nay ngay cả cơ quan hướng dẫn cũng lúng túng về phương pháp luận và phương pháp. Do đó, phần lớn do các công ty kiểm toán độc lập đưa ra và nhiều khi chủ quan, cảm tính.

Nguyễn Đức Minh: Ông đánh giá thế nào về tốc độ cổ phần hóa hiện nay ở Việt Nam? Có ý kiến cho rằng “cổ phần hóa” là từ chỉ được dùng ở Việt Nam, còn ở các nước họ dùng từ đúng bản chất hơn là “tư nhân hóa”. Theo ông thì “cổ phần hóa” và “tư nhân hóa” có giống nhau không? Cảm ơn!

Ông Vũ Xuân Tiền: Tốc độ cổ phần hóa DNNN tôi thấy là rất chậm. Điều này không cần tranh luận nhiều. Theo tôi, về bản chất khi cổ phần hóa chúng ta chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang sở hữu của các chủ thể khác. Do đó, có thể nói nó cũng chính là quá trình tư nhân hóa.

Chúng ta đừng ngại chữ “tư nhân” ở đây. Tư nhân không có gì là xấu. Tuy nhiên, ở Việt Nam còn có một vấn đề mà người ta không thể gọi là “tư nhân hóa” được. Đó là Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 có quy định: DNNN là doanh nghiệp mà vốn nhà nước chiếm từ 51% vốn điều lệ trở lên. Do đó, những công ty sau khi đã cổ phần hóa nhưng vốn nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng chi phối lại không được gọi là doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân. Đây là một trong những lý do dẫn đến việc “dị ứng” với từ tư nhân trong nhiều lĩnh vực.

Chẳng hạn, trước đây không gọi là Đại học tư thục mà gọi là Đại học Dân lập hay trong các thành phần kinh tế chúng ta gọi là các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh rồi dân doanh. Đó chỉ là cách chơi chữ còn bản chất đúng là kinh tế tư nhân.

Tôi muốn bỏ một lá phiếu ủng hộ nhiệt tình cho sự phát triển của kinh tế tư nhân Việt Nam và bất kể cách dùng từ ra sao thì không thể chối bỏ hiệu quả của nó trong việc làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế trong nhiều năm qua.

Thiên Thanh: Trong các năm qua, qua báo chí tôi được biết Chính phủ rất quyết tâm cổ phần hóa các DNNN. Tuy nhiên, thực tế lại không diễn ra như thế vì cứ đến cuối năm là chỉ tiêu cổ phần hóa số DNNN lại không nhiều như mong muốn. Vậy phải chăng việc thúc đẩy cổ phần hóa là quá khó? Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến sự trì trệ này và ông có thể gợi ý những giải pháp có thể giúp thúc đẩy việc cổ phần hóa?

Ông Vũ Xuân Tiền: Bạn có thể đọc lại câu trả lời ban đầu của tôi về 4 vướng mắc lớn trong quá trình cổ phần hóa. Giải quyết được 4 nguyên nhân cơ bản trên đã nêu thì sự trì trệ và chậm trễ tất yếu được tháo gỡ.

Nguyen Minh Phong: Trong một số lĩnh vực, việc cổ phần hóa đôi khi không giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và hoạt động của doanh nghiệp, mà còn tệ hơn do chủ yếu chạy theo lợi nhuận (ví dụ như ngành giáo dục, y tế). Vậy theo ông việc cổ phần hóa có cần thiết phải có những hạn chế hay không?

Ông Vũ Xuân Tiền: Đây là một câu hỏi đề cập đến một vấn đề rất nhạy cảm. Để giải đáp được câu hỏi này, trước hết chúng ta cần trả lời câu hỏi: những đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục và các dịch vụ công cộng khác có liên quan đến an sinh xã hội có nên cổ phần hóa hay không?

Theo quan điểm của tôi, lĩnh vực giáo dục phổ thông và việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là trách nhiệm của nhà nước. Do đó, chúng ta có thể xã hội hóa một phần trong lĩnh vực này nhưng điều ấy không có nghĩa là chúng ta phải cổ phần hóa các bệnh viện mà nhà nước đã đầu tư.

Ví dụ, câu chuyện cổ phần hóa Bệnh viện Bình Dân tại TPHCM là “cầm đèn chạy trước ô tô” và để lại nhiều hậu quả đến nay chưa giải quyết hết được.

Vì vậy, phương án đề nghị của tôi là: củng cố, nâng cao chất lượng các cơ sở công lập để đáp ứng các nhu cầu cho tuyệt đại bộ phận nhân dân lao động. Đồng thời cho phép khu vực tư nhân đầu tư xây dựng các cơ sở mới với chất lượng cao phục vụ cho đối tượng có thu nhập cao. Không nhất thiết phải có một công ty cổ phần có vốn nhà nước trong lĩnh vực này.

Hồng Thạnh: Tôi thấy việc cổ phần hóa DNNN thường được nhắc đến như là cơ hội quyền lợi cho những người có vai vế hoặc lâu năm trong doanh nghiệp. Ông là nhà tư vấn cho nhiều DNNN trong thời gian qua, ông nhận định thế nào về vấn đề này? Và ông tư vấn ra sao trong trường hợp có những doanh nghiệp như thế?

Ông Vũ Xuân Tiền: Trước hết, tôi đồng ý với nhận định trong câu hỏi trên. Do quá trình cổ phần hóa chúng ta không có khung pháp lý chặt chẽ và minh bạch, lại thường xuyên thay đổi nên những cán bộ lãnh đạo của DNNN có điều kiện tiếp cận đến những thông tin mà người lao động không tiếp cận được. Do đó họ đã giành quyền mua cổ phần bằng nhiều cách.

Ví dụ: có những công ty cổ phần ở Vĩnh Phúc sau khi cổ phần hóa thì đến 60% số cổ phần bán ra do một gia đình và dòng tộc đứng tên.

Một nguyên nhân nữa là hiện tượng “bán lúa non” của người lao động. Vì có hiện tượng này nên những người trong bộ máy lãnh đạo đã âm thầm mua lại gần hết số cổ phần của người lao động bán ra. Với hiện tượng này trong quá trình tư vấn cho các DNNN cổ phần hóa, tôi đặc biệt quan tâm đến yêu cầu minh bạch thông tin để hạn chết việc thâu tóm cổ phiếu của một nhóm quyền lực. Tuy nhiên, không phải ý kiến của nhà tư vấn không phải lúc nào cũng được chấp hành như sự chỉ đạo của cấp chính quyền.

Trần Thanh Toàn: Trong quá trình tư vấn các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, ông thấy vướng mắc gì nổi cộm nhất?

Ông Vũ Xuân Tiền: Trong quá trình tham gia, tư vấn cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tiến hành cổ phần hóa, tôi thấy nổi lên những vấn đề sau:

1. Khung pháp lý cho cổ phần hóa chưa đủ mạnh, từ nhiều năm nay cổ phần hóa được điều chỉnh bằng các Nghị định của Chính phủ. Thời gian tới dù thời gian không còn nhiều nhưng tôi đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội nên ban hành một Pháp lệnh về cổ phần hóa DNNN và các hình thức chuyển đổi sở hữu khác để quá trình cổ phần hóa diễn ra nhanh, đúng luật và hiệu quả hơn.

2. Khúc mắc rất lớn là vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Trong vấn đề này có 2 vướng mắc lớn chưa giải quyết được: giá trị quyền sử dụng đất có được tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa hay không. Riêng vấn đề này có 2 Nghị định của Chính phủ quy định hai cách khác nhau. Nghị định 181 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật đất đai thì quy định giá trị quyền sử dụng đất phải được tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Nhưng Nghị định 187 ban hành ngay sau đó thì lại loại trừ giá trị quyền sử dụng đất ra khỏi cổ phần hóa. Đây là một kẽ hở rất lớn làm thất thoát khối tài sản có giá trị của nhà nước.

Có thể lấy ví dụ về cổ phần Công ty Intimex Hà Nội để minh chứng. Intimex có nhiều mảnh đất đắc địa tại Hà Nội, ở những con đường trung tâm thành phố nhưng giá trị quyền sử dụng các mảnh đất nói trên đã không được tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Do vậy, có 1 nhóm cán bộ nhận được “thông tin nội gián” đã mua hết số cổ phần phát hành lần đầu. Sự việc bị phát giác và Bộ trưởng Bộ Thương mại thời điểm đó là ông Trương Đình Tuyển đã phải ký quyết định không công nhận kết quả đấu giá cổ phần của Intimex.

3. Về việc đảm bảo quyền lợi của người lao động đã và đang làm việc tại doanh nghiệp đến thời điểm cổ phần hóa. Riêng vấn đề này đã có 3 cách xử lý khác nhau: cách đầu tiên theo Nghị định 64 thì người lao động được mua cổ phần ưu đãi bằng 70% mệnh giá. Cách thứ hai theo Nghị định 187 thì người lao động được mua cổ phần ưu đãi bằng 80% giá đấu giá thành khi có kết quả đấu giá (IPO lần đầu). Cách còn lại là đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì được mua theo đúng mệnh giá, tức là không có phần tham gia đấu giá số cổ phiều này và thực chất trong một số trường hợp mệnh giá đó không còn ưu đãi, nếu giá sau đấu giá bằng hoặc thấp hơn mệnh giá.

Cả ba cách nói trên đều không triệt để. Mà nguyên nhân là chúng ta đã đưa một chính sách xã hội lồng ghép vào một chính sách kinh tế. Tốt hơn cả là chúng ta sẽ hỗ trợ cho người lao động một khoản tiền nhất định theo số năm họ đóng góp cho doanh nghiệp sau đó có dùng tiền đó để mua cổ phần đóng góp tiếp vào doanh nghiệp hay thành lập doanh nghiệp riêng hoặc đi theo những con đường khác nữa là quyền của người lao động.

4. Kỷ luật về việc cổ phần hóa khá lỏng lẻo. Chưa năm nào chúng ta hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa mà cũng không thấy một quan chức hoặc lãnh đạo một doanh nghiệp nào bị thi hành kỷ luật về vấn đề này. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là một bộ phận công chức, quan chức và lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước vẫn muốn duy trì cơ chế chủ quản để duy trì quyền lực đối với doanh nghiệp.

Đó là 4 vấn đề nổi cộm cần được giải quyết gấp trong giai đoạn tới. Tôi thấy rằng, bản báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong kỳ họp mới nhất đã chỉ ra được 2 trong số 4 nguyên nhân nói trên. Và hy vọng rằng việc giải quyết tốt hai nguyên nhân hàng đầu sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để giải quyết các nguyên nhân sau.

Buổi giao lưu kết thúc lúc 16 giờ. Tòa soạn xin chân thành cảm ơn bạn đọc và ông Vũ Xuân Tiền đã tham gia giao lưu trực tuyến.

Xin hẹn được giao lưu với bạn đọc vào một buổi giao lưu trực tuyến lần sau, trong một chủ đề thú vị khác.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới