Thứ Bảy, 15/06/2024, 17:26
35 C
Ho Chi Minh City

“Chết cùng” một mô hình làm phim

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

“Chết cùng” một mô hình làm phim

Nguyễn Nguyên Thảo

“Chết cùng” một mô hình làm phim
Một cảnh trong phim Sống cùng lịch sử của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân. Ảnh: TL

(TBKTSG Online) – Sự thất bại thảm hại ở phòng vé của một bộ phim đề tài lịch sử do nhà nước đầu tư cho thấy cần phải dứt khoát đặt dấu chấm hết cho tư duy bao cấp để chuyển sang mô hình thị trường nếu thực sự muốn có một ngành công nghiệp điện ảnh và hướng đến sự tiến bộ của nghệ thuật điện ảnh.

Sự kiện phim Sống cùng lịch sử (biên kịch Đoàn Tuấn, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất) có kinh phí đầu tư 21 tỉ đồng nhưng khi ra rạp đã không bán được vé nào đang gây xôn xao trong dư luận.

Một mô hình điện ảnh cũ kỹ

Sự việc sẽ không đến mức gây căng thẳng trong dư luận nếu bộ phim này không thuộc diện bao cấp kinh phí để phục vụ mục tiêu tuyên truyền. Sự phản ứng của dư luận, giới chuyên môn đang không chỉ tập trung vào bộ phim này hay loại đề tài này, mà hướng vào một mô hình và mục tiêu làm phim không còn phù hợp với bối cảnh.

Trước hết, cần phải đặt bộ phim Sống cùng lịch sử vào đúng dòng của nó – đó chính là dòng Điện ảnh Cách mạng Việt Nam – một khái niệm điện ảnh được dùng phổ biến trong quá khứ. Khái niệm Điện ảnh Cách mạng Việt Nam xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ trước, với sứ mệnh mang tính thời cuộc, đó là tuyên truyền cho cách mạng.

Trong những năm chiến tranh, những dự án làm phim thuộc dòng điện ảnh này chủ yếu do nhà nước đầu tư; tác phẩm tập trung các đề tài lịch sử, chính luận, chiến tranh hay chân dung người tốt việc tốt. Phương thức “phát hành” chủ yếu của dòng phim này là thông qua những chương trình chiếu bóng lưu động trên toàn quốc, xem như một phần của các chiến dịch tuyên truyền.

Cùng với sự xoay chuyển của lịch sử, Điện ảnh Cách mạng, dần dần nắm vai trò chính thống. Từ bấy đến nay, nói cho công bằng, dòng điện ảnh này cũng có những đóng góp đáng kể cho nền điện ảnh nói chung, khi cũng ở những đề tài chiến tranh, lịch sử, nhiều đạo diễn tài năng đã đưa vào đó câu chuyện thân phận con người, chiều sâu nhân văn, đặc biệt các tác phẩm chuyển thể từ văn học.

Người xem có lẽ vẫn chưa quên Vợ chồng A Phủ (1961, đạo diễn Mai Lộc), Chị Tư Hậu (1962, đạo diễn Phạm Kỳ Nam), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972, đạo diễn Hải Ninh) hay Cánh đồng hoang (1979, đạo diễn Nguyễn Hồng Sến) v.v… Nhưng con số những tác phẩm thành công về mặt nghệ thuật là rất nhỏ bé so với cả một kho tàng những bộ phim (gồm phim truyện, phim tài liệu, phóng sự, hoạt hình…) được sản xuất để tuyên truyền nhất thời, minh họa hời hợt, không đem lại giá trị nghệ thuật, ngày càng chất đầy trong các kho lưu trữ điện ảnh.

Một đại cảnh mô tả chiến trường Điện Biên Phủ trong phim Sống cùng lịch sử. Ảnh: TL

Không hoàn toàn “cai sữa”

Nhưng khi ngọn gió Đổi Mới thổi đến thì bầu sữa ngân sách không còn ngọt ngào đối với các nhà làm phim. Cơ chế bao cấp kinh phí hoàn toàn để làm phim, phát hành thì có cơ quan khai thác lo đã không còn, mà chuyển sang phương thức tự hạch toán. Chỉ trừ những dự án đặc biệt phục vụ cho những hoạt động tuyên truyền lớn thì nhà nước cấp kinh phí hoàn toàn hoặc một phần, nhưng số này không nhiều. Việc “câu dự án” chỉ còn là đặc quyền đặc lợi của một số hãng phim lớn, được coi là có bề dày kinh nghiệm, có “số má” trong dòng Điện ảnh Cách mạng nói chung.

Bên cạnh từ lóng “phim mì ăn liền” để chỉ dòng phim giải trí đơn giản, đứng rạp nhất thời, “phim bánh mứt” để chỉ phim thị trường chiếu trong mùa tết, thì giới làm phim cũng đặt tên cho những tác phẩm điện ảnh được bao cấp để phục vụ cho mục tiêu tuyên truyền “đồ cúng” hay “phim cúng cụ”… Những nhà làm phim ở các hãng phim được nhà nước thỉnh thoảng rót dự án làm phim thừa biết chuyện nhiều bộ phim thuộc dòng “cúng” mà họ thực hiện sẽ có chung một số phận: làm xong, chiếu miễn phí, chiếu trên truyền hình rồi nhập kho lưu trữ. Nhưng họ vẫn làm vì không phải chịu áp lực thị trường, vì hầu bao ngân sách thường khá và vì vị thế chính trị.

Còn xét về tác phẩm, thì do từ ban đầu, các nhà làm phim dạng này không đặt mục tiêu hướng đến thị trường nên những bộ phim thuộc dòng này khó mà đứng rạp, nói đúng, không đủ năng lực để cạnh tranh với thế giới phim thị trường của các hãng tư nhân và phim ngoại đang trăm hoa đua nở ở các rạp.

Từ sự sòng phẳng của khán giả

Một khi đã “phân dòng” rạch ròi như thế thì rất dễ hiểu vì sao một bộ phim nhà nước đầu tư đến 21 tỉ đồng lại không tương thích với thị trường điện ảnh.

Đề tài lịch sử khai thác theo môtíp tuyên truyền quen thuộc là một phần nguyên nhân. Sự kém năng động và sáng tạo trong tiếp thị, đúng. Nhưng nhìn trên cục diện rộng hơn, nó cho thấy sự không thức thời của dòng điện ảnh tuyên truyền này, khi mà mô hình rạp chiếu bóng lưu động – vốn là “kênh phát hành” chính của dạng phim này – đã không còn phát huy tác dụng trong thời kỳ hiện tại. Dân trí, nhận thức thực tại và lịch sử của người dân đã thay đổi rất nhiều. Họ biết phản biện và chủ động hơn trong tiếp nhận sản phẩm tuyên truyền.

Điều kiện chọn lựa sản phẩm giải trí của người dân, đặc biệt là thị dân, đã tốt hơn rất nhiều nhờ sự phát triển của công nghệ truyền thông đa phương tiện. Người dân sẵn sàng bỏ tiền mua suất vé đặc biệt để xem một phim siêu phẩm lịch sử ngoại nhập với định dạng 3D giúp họ khám phá sự tiến bộ của công nghệ điện ảnh, sẵn sàng đến các tụ điểm càphê phim nghệ thuật để thưởng thức một bộ phim art house (phim nghệ thuật) kén người xem hơn là mất thì giờ đi xem miễn phí một bộ phim giáo điều khiên cưỡng kiểu cũ mà họ biết, nó được làm ra từ chính tiền thuế của họ.

Việc Hãng phim truyện Việt Nam thử nghiệm đưa ra thị trường một bộ phim theo mô hình làm phim bao cấp cho thấy họ có sự quẫy đạp trong mô hình. Nhưng phản hồi của thị trường đã rất rõ ràng và sòng phẳng. Sòng phẳng tới mức, chúng ta cần đặt ra câu hỏi, liệu có nên tiếp tục lãng phí ngân sách cho một mô hình làm phim, tư duy phim đã quá lạc thời?

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới