Chủ Nhật, 14/07/2024, 18:33
24.5 C
Ho Chi Minh City

Chặng nước rút khó khăn

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Chặng nước rút khó khăn

Chiến Thắng

Chặng nước rút khó khăn
Ô tô là một trong những mặt hàng áp dụng thuế nhập khẩu 0% trong ASEAN. Ảnh: Quốc Hùng.

(TBKTSG) – Khi trao đổi với TBKTSG tại Hà Nội cuối tuần trước về việc liệu ASEAN có thể hoàn thành mục tiêu thiết lập một thị trường chung vào năm 2015, Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh đã khái quát: “Vẫn còn rất nhiều việc phải làm trong vòng hai năm rưỡi”.

>>> AEC nhìn từ doanh nghiệp

>>> Hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN

Từ AFTA đến AEC

Mặc dù rất lạc quan khi cho biết “các nước hiện đã thực hiện được 77,8% kế hoạch tổng thể trong lộ trình thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN”, nhưng Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh cũng không giấu sự lo lắng khi đề cập tới thời hạn và tiến độ để đạt mục tiêu này. Ông dùng từ “rất lớn” để nói về những phần việc  phải hoàn thành từ nay đến năm 2015 và cho rằng những phần việc còn lại phải triển khai là những thứ “khó khăn hơn”, đòi hỏi các nước phải “nỗ lực nhiều hơn” và “mức độ cam kết cao hơn”.

Cách đây hơn hai thập kỷ, năm 1992, các nhà lãnh đạo ASEAN (khi đó chỉ gồm sáu nước) đã có sáng kiến thành lập một khu vực thương mại tự do để tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của các nước trong khối ASEAN (AFTA).

Ngay sau khi AFTA được khởi động với các nội dung chủ yếu là cắt giảm thuế, loại bỏ các hàng rào phi thuế và hài hòa các thủ tục hải quan, thương mại giữa các nước ASEAN đã tăng đáng kể từ 430 tỉ đô la Mỹ (1993) lên hơn 2.300 tỉ đô la vào năm 2011. Xuất khẩu và nhập khẩu trong ASEAN cũng tăng đáng kể lần lượt từ 223 tỉ đô la Mỹ lên hơn 1.200 tỉ đô la và từ 430 tỉ đô la lên 1.100 tỉ vào cùng thời kỳ (1) .

Tiếp nối thành công đó, năm 2007, ASEAN “nâng cấp” AFTA thành Cộng đồng kinh tế (AEC) với mục tiêu đưa cả khu vực thành một thị trường chung vào năm 2015, dựa trên năm yếu tố cơ bản về tự do lưu chuyển gồm: hàng hóa; dịch vụ; đầu tư; vốn và lao động có kỹ năng.

Trọng tâm của AEC là phát triển kinh tế khu vực dựa trên sự kết nối sức mạnh của thị trường 10 nước ASEAN với khoảng 600 triệu người tiêu dùng và tổng GDP hơn 1.850 tỉ đô la Mỹ.

Nhiều giải pháp tích cực

Theo CARI, các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa chiếm tới 98% doanh nghiệp trong ASEAN, nhưng đa số họ vẫn chưa ý thức được đầy đủ về các cơ hội mà thị trường chung ASEAN mang lại. Trên thực tế, các công ty này vẫn muốn được hưởng những chính sách bảo hộ, giúp họ tránh được những cạnh tranh từ bên ngoài.

Để khuyến khích dòng chu chuyển tự do hàng hóa tiến tới AEC, ASEAN đã tiến hành dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tiếp nối những gì đã thực hiện ở AFTA. Tài liệu của Ban thư ký ASEAN cho thấy, từ tháng 1-2010, sáu nước phát triển hơn trong ASEAN gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (ASEAN – 6) đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,65% trong tổng số các dòng thuế, trong đó mức thuế 0% áp dụng cho 24,15% tổng số hàng hóa từ các ngành ưu tiên hội nhập như nông nghiệp, hàng không, ô tô, điện tử, ngư nghiệp, chăm sóc sức khỏe, cao su, dệt may và thời trang, du lịch, ngành công nghiệp gỗ; 14,92% các sản phẩm từ thép và inox; 8,93% các sản phẩm cơ khí và máy móc; 8% các sản phẩm liên quan đến hóa chất. Bốn nước gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam cũng cắt giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0-5% đối với 98,86% dòng thuế cho các loại hàng hóa nói trên.

Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết Việt Nam là một trong những thành viên tích cực tham gia AEC và tới tháng 8-2012 đã giảm thuế nhập khẩu cho trên 10.000 dòng thuế xuống mức 0-5% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), chiếm khoảng 98% số dòng thuế trong biểu thuế. Do Việt Nam là một trong số những nước thành viên mới của ASEAN nên được linh hoạt xóa bỏ thuế quan một số mặt hàng, nhóm mặt hàng đến năm 2018, thay vì năm 2015 (2) .

Để tiến tới AEC, ASEAN đang thực hiện nhiều giải pháp khác, trong đó có phát triển hệ thống chính sách một cửa (cho phép các doanh nghiệp nộp giấy tờ về cùng một nơi và các cơ quan chuyên trách sẽ xem xét và đưa ra quyết định tại nơi mà doanh nghiệp nộp); cơ chế tự cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (cho phép những người xuất khẩu, thương nhân, người sản xuất khi đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết, thì được phép tự cấp chứng chỉ xuất xứ hàng hóa cho mình thay vì phải xuất trình một chứng nhận xuất xứ do nhà nước cấp); hiện đại hóa hệ thống hải quan (cho phép thủ tục dỡ container khỏi tàu có thể diễn ra trong vòng 30 phút…).

Chặng đường khó khăn

Tại cuộc hội thảo ở Hà Nội cuối tuần trước, ông Subash Bose Pillai, Trưởng bộ phận hội nhập thị trường, Ban thư ký ASEAN, khẳng định: tính đến hết tháng 5-2013, ASEAN đã thực hiện được 77,8% các sáng kiến AEC.

Như vậy, về mặt thời gian mà nói, gần 80% công việc được hoàn tất trong vòng năm năm (từ 2007). Vậy thời hạn còn lại (2,5 năm) để hoàn tất nốt hơn 20% phần việc có phải là nhiều?

Tổng thư ký Lê Lương Minh khi trả lời phỏng vấn TBKTSG thừa nhận: “Phần còn lại đương nhiên là những thứ không dễ thực hiện”. Tổng thống Philippines Benigno Aquino, được hãng tin Pháp AFP dẫn lời khi dự hội nghị cấp cao ASEAN hồi tháng 4 ở Brunei, cũng cho rằng nỗ lực thành lập thị trường chung ASEAN vào năm 2015 đang ở giai đoạn cam go nhất.

Ông Subash Bose Pillai, người tham gia trực tiếp vào quá trình thành lập AEC, nêu một số lý do mà ông gọi là “nút thắt cổ chai” gồm: các nước chậm trễ trong việc thông qua các thỏa thuận/nghị định thư đã ký kết; không áp dụng được các sáng kiến khu vực do luật lệ và quy định nội bộ từng nước…

Ông Pillai giải thích: “Mỗi nghị định/thỏa thuận cần được cả 10 nước phê chuẩn. Nhưng mỗi nước ASEAN có một cơ chế phê chuẩn khác nhau. Có nước cần rất nhiều thời gian”.

Đặc trưng của ASEAN, ngay từ đầu, chính là sự đa dạng về kinh tế và chính trị của các thành viên. Chẳng hạn, nước giàu nhất và nghèo nhất trong ASEAN có GDP hơn kém nhau tới 61 lần. Những khác biệt như vậy khiến các nước không dễ nhượng bộ khi từ bỏ các chính sách quốc gia để tham gia vào các cam kết khu vực. Và thực trạng này được lặp đi lặp lại suốt bao nhiêu năm nay và đến giờ này nó vẫn tiếp tục được nhắc tới.

Viện Nghiên cứu ASEAN CIMB (CARI), có trụ sở đặt tại Malaysia, trong một nghiên cứu được công bố hồi đầu tháng 7, cũng đưa ra một vài cảnh báo cụ thể hơn.

Theo CARI, các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa chiếm tới 98% doanh nghiệp trong ASEAN, nhưng đa số họ vẫn chưa ý thức được đầy đủ về các cơ hội mà thị trường chung ASEAN mang lại. Trên thực tế, các công ty này vẫn muốn được hưởng những chính sách bảo hộ, giúp họ tránh được những cạnh tranh từ bên ngoài. Trong khi đó, hội nhập kinh tế khu vực lại tiếp cận “từ trên xuống” (chính phủ), chứ không phải “từ dưới lên” (doanh nghiệp). Điều đó có nghĩa là các thỏa thuận hội nhập được cấp chính phủ thực hiện trong khi tiếng nói của doanh nghiệp có khi ít được coi trọng. CARI kết luận rằng, chính phủ không thể đổ lỗi cho kinh tế tư nhân không biết tận dụng lợi thế từ hội nhập khu vực. Sự xuất hiện của “tư duy khu vực” là quan trọng nhưng với doanh nhân, để từ suy nghĩ biến thành hành động thực tế, cần có những quy định thích hợp từ các chính phủ.

Về tự do thương mại, CARI nhận xét, cho dù nhìn vào những con số rất tích cực như “xóa bỏ 99,65% hạn ngạch thuế quan” thì vẫn tồn tại một hệ thống các danh mục loại trừ. “Có sản phẩm được xếp vào danh mục loại trừ tạm thời, loại trừ do nhạy cảm (ví dụ sản phẩm nông nghiệp), có thứ cần được bảo hộ vì lý do an ninh quốc gia, an toàn sức khỏe hay đạo đức xã hội”, báo cáo của CARI viết.

CARI cho rằng, các nhà đàm phán của ASEAN vẫn mất nhiều công sức để thảo luận về “danh sách loại trừ” chứng tỏ các nước vẫn muốn đảm bảo một số ngành công nghiệp của mình được bảo hộ bởi hàng rào thuế quan. Chưa kể tới nhiều loại hàng rào phi thuế quan khác.

Tự do hóa dịch vụ cũng là một thách thức lớn trên con đường tiến tới mục tiêu hoàn thành AEC. Trong khu vực ASEAN, lĩnh vực dịch vụ góp phần đáng kể vào việc gia tăng GDP của từng nước thành viên. Tài liệu của Ban thư ký ASEAN cho thấy, giá trị sản phẩm dịch vụ chiếm tới 40-60% GDP của nhiều nước như Indonesia, Thái Lan, Philippines…  Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cam kết của nhiều nước phát triển trong ASEAN không cao hơn bao nhiêu so với nguyên trạng.

CARI còn cho rằng, hiện các nước ASEAN vẫn cạnh tranh lẫn nhau để thu hút FDI. Tuy nhiên, để tạo ra chính sách cạnh tranh toàn diện, nhiều nước như Lào, Campuchia, Myanmar, thận chí đến cả Philippines, hiện vẫn chưa có các quy định pháp luật phù hợp để chống độc quyền… Điều này cũng được coi là trở ngại lớn trên con đường đi tới một thị trường chung.

AEC được kỳ vọng sẽ đưa ASEAN thành một khu vực kinh tế có sự liên kết chặt chẽ, tạo thuận lợi cho quá trình phát triển năng động, ổn định, tăng cường khả năng cạnh tranh, qua đó đem lại sự thịnh vượng kinh tế cho các nước thành viên. Và như Tổng thư ký Lê Lương Minh đã nói, chặng đường 2,5 năm còn lại vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

____________________________________________

(1) Tài liệu của Subash Bose Pillai, Trưởng bộ phận hội nhập thị trường, Ban thư ký ASEAN tại hội thảo về Cộng đồng kinh tế ASEAN ở Hà Nội ngày 12-7.

(2) Bài phát biểu của ông Vũ Huy Hoàng nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập ASEAN tháng 8-2012.

Cơ chế một cửa của ASEAN là gì?

Cơ chế một cửa là yếu tố quan trọng trong kế hoạch hành động ASEAN để tiến tới hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015. Nhưng, theo Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh, cơ chế này hiện đang là “nút thắt cổ chai” trên chặng đường tiến tới AEC.

Cơ chế một cửa (ASW) là yếu tố quan trọng của AEC. Khi ASW hoạt động với đầy đủ chức năng, lợi thế thương mại và dòng chu chuyển hàng hóa trong khu vực sẽ được cải thiện đáng kể bằng cách áp dụng cơ chế trao đổi dữ liệu điện tử về hàng hóa thông quan trong ASEAN. Cơ chế một cửa quốc gia (NSWs) sẽ liên kết với nhau thông qua ASW cho phép các doanh nghiệp nộp tất cả các văn bản giấy tờ liên quan tới hoạt động thương mại về cùng một nơi và cũng chính các cơ quan chuyên trách trong ASEAN sẽ xem xét và đưa ra quyết định ở chính nơi mà doanh nghiệp làm thủ tục giấy tờ.

Hiện Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã và đang kích hoạt cơ chế NSWs ở các mức độ khác nhau. Trong các nước thành viên, các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp ngày càng tận dụng NSWs để nộp và tiếp cận các mẫu tờ khai hải quan khác nhau, đồng thời để hoàn thành nghĩa vụ pháp lý của mình. Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam hiện đang trong giai đoạn đầu của quá trình này và cũng đang thực hiện các ứng dụng hải quan điện tử bao gồm việc nộp giấy tờ, chọn lọc, thanh toán thuế và các biên lai thuế.

Nguồn: Ban thư ký ASEAN

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới