Thứ Tư, 19/06/2024, 23:44
30 C
Ho Chi Minh City

Cắt giảm điều kiện kinh doanh đã thực chất?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Cắt giảm điều kiện kinh doanh đã thực chất?

Lê Anh

(TBKTSG Online) – Thời gian qua các bộ, ngành dù có cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh không cần thiết nhưng việc cắt giảm chưa thực chất, có những điều kiện không phải cắt giảm mà chuyển qua kiểm tra sau thông quan.

Cắt giảm điều kiện kinh doanh đã thực chất?
Logistics là lĩnh vực kinh doanh có nhiều điều kiện mà doanh nghiệp phải đáp ứng – Ảnh: Lê Anh

Đây là thông tin được bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Ban nghiên cứu Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho biết tại hội thảo, năng lực cạnh tranh Việt Nam kết quả và những thách thức đối với doanh nghiệp, diễn ra ở TPHCM ngày 24-10.

Một thông tin đáng chú ý được công bố tại hội thảo là năng lực cạnh tranh của Việt Nam qua xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2019 Việt Nam tăng 3,5 điểm; tăng 10 bậc từ thứ hạng 77 lên thứ hạng 67. Trong các chỉ số tăng điểm thì 8/12 chỉ số trụ cột tăng điểm và tăng hạng như thể chế; hạ tầng; y tế; quy mô thị trường…

Theo bà Thảo dù năng lực cạnh tranh được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Trong đó nổi lên một số vấn đề như minh bạch về ngân sách năm 2018 thứ 42 song năm 2019 đứng thứ 84; tham nhũng đứng thứ 101, trong khi năm 2018 đứng thứ 91…

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong ASEAN chỉ đứng thứ 7, mục tiêu của Chính phủ đưa ra là đứng trong tốp 4 ASEAN. Tuy nhiên, mục tiêu này rất khó đạt được do còn nhiều rào cản.

Đầu tiên là điều kiện kinh doanh vẫn là trở ngại đối với doanh nghiệp. Qua nghiên cứu và rà soát văn bản của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương thì có 6.000 điều kiện kinh doanh. Ví dụ có những quy định vô lý như nhà xưởng bao nhiêu mét vuông, kê hàng cách bao nhiêu… “Thời gian qua các bộ, ngành dù có cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết nhưng thực chất không phải cắt giảm mà chuyển qua kiểm tra sau thông quan”, bà Thảo nói.

Dẫn ví dụ Bộ Công Thương ban hành quyết định 765 về việc công bố danh mục các mặt hàng đã được cắt giảm kiểm tra chuyên ngành thuộc trách nhiệm quản lý của bộ này. Trong đó hàng trăm mặt hàng sắt thép và sản phẩm dệt may được liệt kê trong danh mục. Tuy vậy nội dung trong quyết định này chỉ là không kiểm tra trong giai đoạn thông quan mà chuyển sang kiểm tra sau thông quan. Bà Thảo đặt nghi vấn có hay không bệnh thành tích?

Một rào cản mà doanh nghiệp cũng thấy rõ đó là xu hướng các văn bản pháp luật thể hiện sự phân chia quản lý của cơ quan nhà nước gây khó khăn hơn cho doanh nghiệp. Một ví dụ được dẫn ra là trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động (Nghị định 44/2016), phân công thẩm quyền cấp, gia hạn, cấp lại thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động cho 9 bộ. Trong khi trước đây chỉ có một bộ là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản lý cấp phép thì nay doanh nghiệp phải xin phép 9 bộ với cùng một nội dung công việc.

Bên cạnh đó cùng một quy định chính sách nhưng cách thức thực thi khác nhau có tình trạng tùy tiện trong áp dụng pháp luật và phần thua luôn thuộc về doanh nghiệp. Đơn cử như Nghị định 15/2018 (điểm 5, điều 13) nêu rõ các trường hợp được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó bao gồm “sản phẩm là mẫu thử nghiệm hoặc nghiên cứu có số lượng phù hợp với mục đích thử nghiệm hoặc nghiên cứu có xác nhận của tổ chức, cá nhân”. Tuy nhiên, các lô hàng phi mậu dịch hàng hóa mẫu khi qua các chi cục hải quan luôn bị yêu cầu kiểm tra an toàn thực phẩm hoặc xác nhận miễn kiểm tra từ cơ quan quản lý chuyên ngành. Trong khi ở các cửa khẩu khác như sân bay hoặc cảng biển thì không bị yêu cầu như vậy.

Luật sư Nguyễn Quốc Phong, Công ty luật Aliat Legal, nêu các bất cập liên quan đến luật đầu tư và luật doanh nghiệp. Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài tham gia vốn góp vào doanh nghiệp khi muốn tăng vốn đầu tư cũng phải làm lại thủ tục. Như vậy, doanh nghiệp lại phải làm thêm một bước nữa.

Hay như việc doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào lĩnh vực logistics, luật đã quy định rõ nhà đầu tư nước ngoài, được phép đầu tư với một tỷ lệ vốn nhất định. Tuy nhiên, khi xin cấp phép các sở ở địa phương không nắm được luật rồi lại gửi văn bản ra các bộ để xin ý kiến, sau đó các bộ trả lời như luật quy định. Việc này làm mất thời gian của doanh nghiệp.

Ông Phong kiến nghị, cần phải phân cấp rõ ràng cho các sở ở địa phương. Đồng thời, phải có một cơ chế giám sát để các cơ quan nhà nước phải làm đúng theo luật. 

Tại hội nghị rất nhiều doanh nghiệp phản ánh việc phải nộp kèm giấy chứng nhận đăng ký lưu hành tự do (CFS) trong thành phần hồ sơ công bố sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu gây nhiều khó khăn, tốn thời gian, chi phí cho các doanh nghiệp. Thời gian để xin cấp CFS tại nước xuất khẩu, sau đó làm thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự hiện mất rất nhiều thời gian, thường từ 2-3 tháng, làm chậm quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Đại diện của Johnson & Johnson đề xuất cần gỡ bỏ giấy chứng nhận đăng ký lưu hành tự do (CFS), hoặc có thể yêu cầu giấy CFS ở khâu hậu kiểm để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Vị này cho rằng vấn đề làm sao để thuận lợi giữa kinh doanh của doanh nghiệp và việc quản lý của nhà nước.

Mời xem thêm:

Không để điều kiện kinh doanh quay lại

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới