Thứ Ba, 21/05/2024, 07:33
33 C
Ho Chi Minh City

Cách nào để vực dậy thị trường chứng khoán?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Cách nào để vực dậy thị trường chứng khoán?

Các chuyên gia bình luận về việc thị trường chứng khoán sụt giảm kéo dài – Ảnh: Lê Toàn

(TBKTSG Online) – Tiếp nối sự trầm lắng kéo dài từ cuối năm 2007, thị trường chứng khoán mở đầu năm mới vẫn với nhiều phiên sụt giảm thêm nữa, kéo VN-Index tính đến ngày 14-1 xuống dưới 850 điểm. Tình hình khiến các cơ quan quản lý cũng lo lắng và đang tìm các giải pháp giúp hồi phục thị trường.

Trong sự quan tâm của nhà đầu tư, doanh nghiệp, và cả cơ quan quản lý đối với bối cảnh thị trường hiện tại, TBKTSG phối hợp với TBKTSG Online và Câu lạc bộ Doanh nghiệp tài chính chứng khoán đã tổ chức tường thuật trực tuyến buổi tọa đàm: “Dự báo tình hình thị trường chứng khoán (TTCK)trong thời gian tới và bình luận các giải pháp mà cơ quan quản lý nhà nước đang triển khai để vực dậy thị trường đang xuống dốc”.

Sụt giảm là tất yếu sau một quá trình tăng nóng

Ông Lâm Minh Chánh, Tổng giám đốc công ty chứng khoán Đại Việt, cho rằng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến việc sụt giảm thị trường chứng khoán hiện tại là do Việt Nam đã để thị trường phát triển quá “nóng”. Chỉ trong khoảng thời gian một năm mà chỉ số VN-Index đã tăng trưởng hơn 200%, từ 400 điểm đến gần 1.200 điểm. Do đó, tình hình thực tế thị trường chứng khoán hiện nay thực sự là sự “trả nợ” đến từ những biện pháp điều chỉnh sâu để thị trường chứng khoán quay về với giá trị thực của nó.

Những biện pháp mà Nhà nước đưa ra hiện nay có vẻ như quá trễ, lẽ ra sự điều chỉnh này phải triển khai từ khi thị trường sụt ở mức 950 điểm. Nếu như tính cả giai đoạn phát triển của TTCK từ năm 2001 đến nay thì tốc độ tăng trưởng của thị trường này vẫn là quá nóng. Ông Chánh lấy ví dụ cụ thể mức tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân mỗi năm cao nhất chỉ đạt đến 10%, do đó sự phát triển của TTCK một cách có cơ sở (nghiên cứu từ TTCK các nước) chỉ có thể gấp ba lần mức tăng trưởng của GDP. Do đó, mức tăng trưởng trên 200% của TTCK chỉ trong vòng một năm là quá cao.

Giải pháp đến từ cơ quan chức năng

Ông Lâm Minh Chánh nói: sụt giảm là tất yếu sau một quá trình “nóng”

Chia sẻ quan điểm của ông Chánh, ông Dominic Sriven, Giám đốc Công ty quản lý quỹ đầu tư Dragon Capital, cũng nhận định rằng TTCK năm ngoái lên quá cao. Bản thân là một nhà đầu tư, ông đồng tình với giải pháp của Nhà nước, thông qua chỉ thị 03, nhằm hạn chế dòng tiền đổ vào thị trường này một cách ồ ạt.

Tuy nhiên, ông cho rằng để đưa ra những chính sách quản lý tiền tệ một cách dài hạn và có tầm nhìn, Nhà nước nên nhìn nhận dưới góc độ những chính sách vĩ mô sẽ “sống chung” với sự phát triển và biến động của hai thị trường được xem là nóng bỏng nhất trong xã hội hiện nay – chứng khoán và bất động sản – như thế nào cho thật hiệu quả.

Đừng nên so sánh việc ban hành các chính sách điều hành thị trường của Việt Nam so với các nước khác bởi vì không thể đem so sánh Việt Nam với các nước phát triển như Mỹ, một quốc gia chỉ một phiên họp của Cục dự trữ liên bang (FED) có đến 10 ngàn nhà kinh tế họp mà kết quả đưa ra chỉ là thay đổi 0,25% lãi suất. Và ở các nước phát triển, các nhà ban hành chính sách cũng có thể phạm sai lầm.

Ông Trịnh Kim Quang, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Quản lý quỹ ACB, cho rằng TTCK trong năm 2006 đã có số lượng nhà đầu tư trong nước tăng rất nhanh, điều này phản ánh việc những nhà đầu tư cá nhân tham gia TTCK ồ ạt vì họ thấy sinh lợi nhanh và cao. Tuy nhiên, hiện nay TTCK Việt Nam đang chìm trong trạng thái bi quan thì việc khuyến khích nhà đầu tư trong nước tiếp tục tham gia vào là điều khó, vì thực sự trước mắt họ là một thị trường không hấp dẫn chút nào.

Trong khi đó, nhà đầu tư nước ngoài lại đang tha thiết muốn đầu tư vào nhưng bị kẹt về “room” (tỷ lệ sở hữu cổ phần trong các công ty). Trong bối cảnh này, ông Quang cho rằng Nhà nước không nên loại trừ những giải pháp tình thế, cụ thể cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu hơn vào TTCK khi mà nhà đầu tư trong nước không đủ vốn tiếp tục theo đuổi. Có nghĩa là Nhà nước nên xem xét đến việc mở room đối với các nhà đầu tư nước ngoài, còn mở room ra sao, đến mức độ nào đòi hỏi một chính sách mang tính dài hạn. Khi có đòn bẩy từ luồng vốn đầu tư của nước ngoài vào TTCK, giá chứng khoán sẽ tăng, và sẽ thu hút nhà đầu tư trong nước quay lại với thị trường này.

Về việc mở room, theo ông Quang, có thể cho họ tăng tỷ lệ sở hữu nhưng sẽ hạn chế số cổ phần này không tham gia đại hội cổ đông hoặc không chi phối được việc quản trị của doanh nghiệp, đặc biệt là ngân hàng. Ông Quang giải thích thêm rằng trong danh mục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài thường phải có những loại cổ phiếu hấp dẫn, mà cổ phiếu ngành tài chính là một trong số đó. Ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ Thái Lan, đó là cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu nhiều hơn mức cho phép là 30% hiện nay trong ngân hàng. Tuy nhiên, số cổ phần dôi ra này sẽ không có quyền dự đại hội cổ đông và không có quyền biểu quyết, tránh được việc nước ngoài nắm quyền kiểm soát trong ngân hàng. Khi có sự tham gia của nước ngoài, sẽ có thể đẩy giá cổ phiếu lên, lúc đó tất nhiên sẽ hấp dẫn nhà đầu tư trong nước.

Cần khuyến khích lượng vốn thường trú

Ông Huy Nam phát biểu tại buổi tọa đàm – Ảnh: Lê Toàn

Chuyên gia chứng khoán Huy Nam nói rằng chính sách siết chặt tiền tệ trên thị trường vừa qua là quá vội vàng. Ông Nam nghĩ ít nhất là lượng tài khoản phải đạt 1% dân số hay lượng tiền thường trú trên thị trường giao dịch đạt mức 1-2% giá trị vốn hóa thị trường thì mới nên đưa ra chính sách. Lượng tiền thường trú hiện nay trên thị trường chính thức chỉ khoảng 0,2% (còn có tác dụng cho biết độ mạnh hay độ lớn của thị trường) nhưng Nhà nước đã quá vội vàng đưa các biện pháp để bóp nó lại. Cho nên, yếu tố chính có thể thúc đẩy thị trường hiện nay là các chính sách của Nhà nước.

Ông Nam cho rằng trong những tháng cuối năm 2007 đã có những sự yếu tố bất thường xảy ra trên TTCK. Trước hết, sự dự báo thị trường sẽ tăng vào cuối năm là không chính xác, bên cạnh đó là yếu tố bất thường trong khâu phát hành. Các công ty liên tục phát hành các cổ phần, những người giao dịch thường xuyên trên sàn rời bỏ thị trường thứ cấp (niêm yết) để đi săn tìm những cổ phiếu chuẩn bị phát hành nhằm tìm lợi nhuận sau khi các cổ phiếu đó được niêm yết. Điều đó đã đẩy giá cổ phiếu ở thị trường không chính thức lên quá cao dựa trên những kỳ vọng của nhà đầu tư, dẫn tới các cổ phiếu trên sàn cũng bị đẩy lên. Sau đó, một lượng nhà đầu tư giao dịch thường xuyên trên sàn đã rút ra khỏi thị trường thứ cấp để đầu tư vào các cổ phiếu bên ngoài sàn, phần nào góp phần kéo khối lượng giao dịch cũng như giá các cổ phiếu trên sàn đi xuống.

Làm sao để nuôi dưỡng lượng nhà đầu tư thực sự giao dịch trên sàn? Hiện nay, chỉ khoảng 300.000 ngàn tài khoản, bao nhiêu trong số đó thực sự giao dịch thường xuyên? Cho là có khoảng 1.000 tỉ đồng thường trú trên thị trường thứ cấp, và vòng quay vốn khoảng 15 ngày, thì có khoảng 1 tỉ đô la tiền quay vòng trên thị trường thứ cấp, lượng tiền 1 tỉ đô la này có chịu nổi khối lượng tiền ở thị trường bên dưới (phát hành thêm) hay không. Theo ông Nam, điều cần thiết hiện nay là nên có những chính sách khuyến khích lượng người đầu tư trên sàn.

Ông Lâm Minh Chánh đồng ý với việc cho mở thêm nhiều tài khoản cá nhân, vì thực sự con số 300.000 tài khoản hiện nay vẫn là con số quá nhỏ, và trên thực tế chỉ khoảng 100.000 tài khoản thực sự hoạt động với tần suất cao. Sự biến động của thị trường cũng một phần xuất phát từ sự thiếu kiến thức của nhà đầu tư, do đó khi mà tầm với của các công ty chứng khoán vươn đến các nhà đầu tư cá nhân, sẽ cung cấp cho họ những kiến thức căn bản, giúp họ thực sự hiểu biết về TTCK khi tiến hành mở tài khoản.

Với con số xác định trong tương lai có khoảng 3 triệu tài khoản được mở, hy vọng 1/6 trong số này (500.000) là những tài khoản thường xuyên giao dịch, sẽ là một lượng cầu cần thiết để tạo cân bằng trên thị trường.

Giải quyết lượng cung lớn

Ông Dominic Scriven nói: Cách cổ phần hóa ở Việt Nam không giống các nước khác – Ảnh Lê Toàn

Ông Dominic nói rằng vai trò của nhà nước là người điều hành chính sách tiền tệ và định hướng thị trường lâu dài, nhưng cũng là người chủ (người bán) các doanh nghiệp sắp đưa ra cổ phần. Người bán cũng cần xem xét yếu tố giá khi bán ra thị trường. Nhà nước khi bán ra cần cân đối giữa quyền lợi giữa nhà đầu tư và của cả doanh nghiệp. Ông cho rằng hiện nay là chưa cân đối.

Cách cổ phần hóa ở Việt nam, rất ít nước khác có. Cách này chỉ phù hợp với Việt Nam 5 năm trước, khi đất nước chưa có đủ công ty có khả năng định giá doanh nghiệp. Tại sao Nhà nước không thuê một vài người tư vấn để thẩm định, xem xét, khảo sát giá trị các công ty, đi chào với một số cổ đông xem mức độ chấp nhận của họ tới đâu, nên bán bao nhiêu cổ phần ra ngoài và bán ở những giá nào? Sau khi khảo sát, đưa ra một bảng giá và nhà nước chọn để bán ra ngoài ở một mức giá.

Ông Dominic nói nên khảo sát vừa nhà đầu tư chiến lược, vừa nhà đầu tư bình thường, lấy bình quân giá có thể bán cho cả hai bên để đưa ra một giá bình quân nhất định. Hiện nay, chúng ta thường đưa cổ phần ra đấu giá, có giá cao thấp, sau đó lấy bình quân áp cho cổ đông chiến lược, như vậy là không hợp lý.

Còn ông Huy Nam thì e rằng hình thức đấu giá hiện nay sẽ khó thành công trong thời gian tới. Trên thế giới, khi một công ty nào muốn IPO, thì các tổ chức bảo lãnh sẽ đi điều tra thị trường, căn cứ điều kiện thị trường đưa ra giá, đi chào cho các khách hàng, và đến gần ngày chào bán, sẽ đưa ra một giá được chào đó nhiều nhất. Khi đó, đã có sẵn những nhà đầu tư muốn mua, và giá đó sẽ được thị trường chấp nhận và giá có khả năng sẽ tăng. Ông nghĩ thời gian tới Việt Nam sẽ cũng đi theo xu hướng này của thế giới. 

THỦY TRIỀU – YẾN DUNG

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới