Thứ Năm, 25/07/2024, 16:34
32 C
Ho Chi Minh City

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp: Có còn đáng tin?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp: Có còn đáng tin?

Thủy Triều

minh họa: Khều.

(TBKTSG) – Lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp trong báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán năm 2010 có độ vênh lớn. Và nó đang trở thành xu hướng. Vì sao?

Theo một thống kê của cổng thông tin tài chính Vietstock trên 94 báo cáo tài chính 2010 có cùng trạng thái (riêng lẻ, hợp nhất) thì có đến 52 doanh nghiệp (hơn 50%) có lợi nhuận sau kiểm toán giảm, 35 doanh nghiệp có lợi nhuận điều chỉnh tăng và 7 doanh nghiệp không đổi.

Vô tình hay hữu ý

Theo Vietstock, ở nhóm có lợi nhuận giảm, MSN có mức chênh lệch lớn nhất với 351,7 tỉ đồng, kế đến là HBB với 120,6 tỉ đồng, PVX xếp thứ ba với mức giảm 42,5 tỉ đồng. Với QCG, nếu lần soát xét báo cáo bán niên 2010 lợi nhuận đột ngột tăng mạnh, thì ở lần kiểm toán cả năm lợi nhuận lại giảm gần 32 tỉ đồng.

Ngoài ra, với doanh nghiệp có lãi ròng tăng thì TCM dẫn đầu khi lợi nhuận điều chỉnh tăng thêm 31,6 tỉ đồng sau kiểm toán, kế đến là CSC với mức tăng 21,2 tỉ đồng và LCG có mức lợi nhuận tăng thêm là 16,4 tỉ đồng.

Bài báo này muốn đưa ra những quan điểm xung quanh các nguyên nhân có thể dẫn đến sự sai biệt giữa báo cáo tài chính của các công ty trước và sau kiểm toán.

Ông Nguyễn Xuân Minh, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ Việt Nam, cho rằng sai lệch giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán vẫn thường gặp ở các thị trường mới nổi khác nhưng ở mức độ ít hơn so với Việt Nam. Ông Minh cho rằng điều này có thể xuất phát từ cách hiểu khác nhau về chuẩn mực kế toán của doanh nghiệp khi hạch toán các khoản lời lỗ từ đầu tư và cũng không loại trừ nó xuất phát từ năng lực quản trị của ban điều hành các doanh nghiệp.

Ở góc nhìn tổng quát hơn, ông Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị kinh doanh của Đại học Ngân hàng TPHCM, cho biết có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan đưa đến sự chênh lệch giữa báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước và sau kiểm toán.

Nguyên nhân khách quan, theo ông Dương, có thể do cách hiểu, cách xử lý số liệu, chuẩn mực kế toán giữa các doanh nghiệp khác nhau, giữa doanh nghiệp và kiểm toán có sự khác nhau, ví dụ như tính doanh thu chênh lệch tỷ giá, thuế, dự phòng… Điều này càng trở nên phức tạp hơn khi xem xét, nếu doanh nghiệp có công ty con, công ty liên kết. Chênh lệch do nguyên nhân khách quan này hoàn toàn có thể chấp nhận được và cũng thường xuyên xảy ra ở các thị trường khác.

Thế nhưng nếu sự chênh lệch quá lớn hay chênh lệch lặp đi lặp lại nhiều lần, thì theo ông Dương, không thể đổ cho nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân ở đây có thể xuất phát từ nhiều động cơ như muốn nâng giá cổ phiếu, làm đẹp báo cáo để trình cổ đông… Nguyên lý chung để thực hiện việc thay đổi số liệu trong báo cáo tài chính là tìm cách đẩy lợi nhuận của kỳ sau vào kỳ này, hoặc đôi khi là ngược lại.Có hai biện pháp để thực hiện sự thay đổi trên, đó là làm tăng doanh thu và giảm chi phí.

Để đẩy doanh thu, một số cách thường được áp dụng, đó là ký hợp đồng lòng vòng giữa công ty mẹ – con, thường là giao dịch một lượng hàng lớn với giá rất cao. Việc này không chỉ làm tăng doanh thu mà còn tạo ra sự nhầm tưởng hàng của công ty có giá trị cao; hoặc ghi nhận thu nhập khác vào doanh thu, ví dụ như thu từ hoạt động tài chính, thu nhập bất thường như thanh lý tài sản cố định, chiết khấu thanh toán; ghi nhận doanh thu khi chưa thật sự xuất hàng, giảm giá bán và giảm điều kiện mua chịu vào cuối năm, thỏa thuận với khách hàng lấy hàng nhiều vào cuối năm sau đó sẽ trả lại vào đầu năm sau vì lý do gì đó.

Nếu muốn giảm doanh thu, công ty có thể sử dụng cách che giấu các khoản thu như thu từ bán phế phẩm, hoa hồng và chiết khấu nhận từ nhà cung cấp.

Để việc giảm chi phí, ông Dương đưa ra một số kỹ thuật mà báo cáo của các doanh nghiệp có thể sử dụng đó là phân bổ chi phí cho nhiều kỳ thay vì phân bổ một lần trong kỳ; mua hóa đơn cho các chi phí không có thực, trì hoãn thanh lý tài sản; thay đổi phương pháp xác định giá thành, lập dự phòng và khấu hao ví dụ như chủ động giảm dự phòng các khoản phải thu…

Nên có chế tài

Với những sai lệch trong báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán do nguyên nhân chủ quan thì tác động của nó không hề nhỏ. Trước hết nó có khả năng gây thiệt hại nặng cho nhà đầu tư, làm mất lòng tin của họ, sau đó nó còn ảnh hưởng chung đến cả thị trường. Vì vậy, thiết nghĩ cơ quan quản lý nên xem xét để có chế tài nhằm hạn chế tình trạng này.

Hiện tại các công ty niêm yết sẽ rơi vào diện cảnh báo nếu kinh doanh bị lỗ, hoặc bị ngừng giao dịch nếu lỗ liên tiếp hai năm, còn nếu số liệu giữa các báo cáo tài chính bị vênh nhau thì công ty sẽ phải giải trình, sau đó bố cáo lại con số đã giải trình cho nhà đầu tư biết. Ngoài ra không có chế tài gì nặng hơn đối với các công ty có sai lệch lớn sau kiểm toán.

Có ý kiến cho rằng để hạn chế tình trạng số liệu biến động mạnh sau khi kiểm toán làm ảnh hưởng đến nhà đầu tư thì Nhà nước nên có các biện pháp chế tài cụ thể áp dụng cho các mức độ sai lệch, giải trình sai lệch không thuyết phục, hay căn cứ vào số lần sai lệch để đưa ra các mức chế tài.

Ở một khía cạnh khác, cũng cần xem lại chất lượng kiểm toán vì thực tế nhiều doanh nghiệp có thể chỉ ra rằng kiểm toán không hoàn toàn đúng. Do vậy, theo các chuyên gia cần phải nâng cao số lượng và chất lượng các kiểm toán viên nhằm bảo vệ các nhà đầu tư. Hiện nay số lượng công ty lên sàn ngày càng nhiều mà số lượng công ty kiểm toán vẫn không thay đổi, khiến cho chất lượng kiểm toán phần nào bị giảm sút.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới