Thứ Tư, 19/06/2024, 02:34
28.9 C
Ho Chi Minh City

Bài toán kiềm chế lạm phát có giải sai?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Bài toán kiềm chế lạm phát có giải sai?

Ông Huỳnh Thế Du: “Cơ quan quản lý không theo kịp tiến trình cải cách và mở cửa” – Ảnh: Lê Toàn

(TBKTSG Online)- Các cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước đã không theo kịp tiến trình cải cách và mở cửa, dẫn đến những “rối rắm” trong chính sách điều hành, hậu quả là nền kinh tế đang đứng trên bờ vực khủng hoảng tài chính.

Đó là ý kiến ghi nhận trong buổi tọa đàm nhìn lại chính sách tiền tệ do Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức hôm 3-3.

Lo ngại khủng hoảng tài chính  

Theo ông Huỳnh Thế Du, chuyên gia kinh tế, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nếu khủng hoảng tài chính thường xuất phát từ 4 nguyên nhân thì thực trạng tài chính tại Việt Nam thời gian vừa qua đã phản ánh đến 3,85 những nguyên nhân đó.

Thứ nhất là tốc độ tự do hóa tài chính quá nhanh, thể hiện ở lãi suất tự do, dự trữ bắt buộc linh hoạt, mở cửa cho thị trường nước ngoài, đa dạng hóa sở hữu và cạnh tranh mà kết quả là khối ngân hàng nhà nước ngày càng bị thu hẹp.

Thứ hai, các cơ quan quản lý và Ngân hàng Nhà nước không theo kịp tiến trình cải cách và mở cửa. Một trong những công cụ chủ yếu để điều hành hệ thống tiền tệ là lãi suất đã tỏ ra vô tác dụng. Khi lãi suất tăng, ngân hàng lại vay nhiều, khiến Ngân hàng Nhà nước không thể điều hành thị trường mở, từ đó phải dùng đến công cụ dự trữ bắt buộc, tín phiếu và thậm chí là can thiệp hành chính.

Thứ ba, việc áp dụng tỷ giá cố định được duy trì trong một thời gian dài. Và cuối cùng là có một dòng tiền lớn đột ngột đổ vào nền kinh tế.

Chia sẻ quan điểm với chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du, ông Diệp Bảo Châu, Phó tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn, bày tỏ sự lo ngại trước việc dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng cao mà khả năng hấp thu thấp. Theo ông Châu, với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ hơn 20 tỉ đô la Mỹ trong năm 2007 mà các cơ quan quản lý nhà nước đã thể hiện sự lúng túng trong khả năng làm cho đồng vốn này luân chuyển. Liệu một khi tăng cường thu hút vốn FDI lên đến 50-60 tỉ đô la Mỹ mà nền kinh tế không hấp thu được, dẫn đến việc nhà đầu tư rút vốn thì Việt Nam có rơi vào tình trạng suy thoái như trường hợp Thái Lan trước đây không.  

Theo GS-TS Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TPHCM, cần nhìn nhận nền kinh tế Việt Nam đang đứng ở đâu. Thật sự là chúng ta chỉ mới ở bờ vực khủng hoảng, không phải vì nguồn vốn nước ngoài, mà do sự rối rắm (chứ không phải lúng túng) trong chính sách điều hành. Có thể thấy sự phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước vào Bộ Tài chính và những điều bất cập trong chính sách từ lâu. “Không có một nền kinh tế nào mà dự trữ quốc gia có thể chia năm sẻ bảy, đây là một điều hết sức vô lý, thể hiện sự yếu kém của ngân hàng trung ương”.

Cơn bệnh lạm phát từ đâu?

Ông Trịnh Kim Quang, Chủ tịch HĐQT Công ty quản lý quỹ Ngân hàng Á Châu (ACB), nhận định nền kinh tế thế giới bị biến động theo sự leo thang của giá dầu, sự rớt giá của đồng đô la Mỹ, từ đó khiến kinh tế Việt Nam cũng biến động theo do ảnh hưởng bởi giá cả nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài.

Các nhà sản xuất Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu từ nước ngoài (70%). Giá dầu, phân bón, than, thép, vật liệu xây dựng tăng, đi kèm với việc Chính phủ thả nổi giá xăng, điện… càng chất thêm gánh nặng lên vai các doanh nghiệp sản xuất, buộc lòng họ phải nâng giá bán sản phẩm. Việc nhà nước tăng lãi suất cơ bản cũng góp phần tạo ra phản ứng dây chuyền dẫn đến giá cả leo thang.

Từ những phân tích trên, ông Quang cho rằng các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn quá máy móc trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Cứ thấy chỉ số giá cả tăng thì vội kết luận lạm phát và đánh đồng nó với việc thừa tiền. Vì vậy động tác tiếp theo là hút tiền về trong khi chưa tìm hiểu kỹ có đúng là nền kinh tế thừa tiền hay không.

Dưới góc độ nhà đầu tư, ông Khổng Văn Minh, Giám đốc đầu tư Quỹ đầu tư Jaccar, cho rằng Ngân hàng Nhà nước không có sự phối hợp đồng bộ về chính sách, chẩn đoán sai bệnh và kê sai thuốc. Thực chất, khủng hoảng chủ yếu là do chi phí đẩy, chi phí đầu vào tăng cao. Trong khi đó, Nhà nước lại thắt chặt tiền tệ, đẩy thị trường rơi vào tình trạng thiếu tiền, khiến nền kinh tế bị sốc. Cụ thể là sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng dự trữ bắt buộc, lạm phát còn tăng cao hơn.

Theo ông Huy Nam, chuyên gia kinh tế, tình hình đáng lo ngại như hôm nay bắt nguồn từ hai vấn đề. Thứ nhất là biện pháp hành chính buộc ngân hàng thương mại mua tín phiếu, kế đến là chuyện thả nổi giá xăng dầu. Hai việc này gần như đối lập nhau, cho thấy Việt Nam không có chính sách nhất quán. Đối với chính sách giảm cung tiền để kiềm chế lạm phát như hiện tại, ông Nam lưu ý rằng các phương tiện thanh toán trong xã hội không chỉ có tiền đồng, người dân và kể cả các tổ chức trong thực tế còn có thể thanh toán hàng hóa, dịch vụ với nhau bằng vàng, ngoại tệ, thậm chí là hàng đổi hàng… Do vậy, các biện pháp giảm cung tiền chỉ nhắm vào tiền đồng e rằng không có tác dụng nhiều.

Ngoài giải pháp, còn cần ý chí

Ông Lương Văn Lý, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc DNL Partners (ông Lý cũng là thành viên HĐQT Quỹ đầu tư BEVI), cho rằng Việt Nam đang áp dụng bài thuốc chữa lạm phát đã được đại đa số các nước chấp nhận, áp dụng và chứng minh tính hiệu quả trong quá khứ. Tuy nhiên, trước khi áp dụng bài thuốc này, lẽ ra nên có sự thảo luận giữa các nhà xây dựng chính sách và các chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp để có thể tính tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế, từ đó đưa đến những quyết định là tỷ lệ lạm phát nên được chấp nhận ở mức độ nào để có thể giữ được tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, ông Lý đặt vấn đề, các cơ quan quản lý nhà nước cần băn khoăn trước những câu hỏi như: Tại sao nền kinh tế Việt Nam quá dễ bị tổn thương trước sự biến động của giá dầu, giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thế giới? Tại sao Việt Nam mãi là một nước xuất khẩu dầu thô và mỗi khi giá dầu thế giới tăng thì Việt Nam lại phải tăng giá xăng dầu, kéo theo sự leo thang của giá cả tiêu dùng? Tại sao những nước khác vẫn nhập khẩu lớn nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và chịu tác động từ việc giá cả tăng cao nhưng việc điều hành kinh tế của họ vẫn không bị lúng túng? Phải chăng, các nhà quản lý đã có những khiếm khuyết trong điều hành để đến thời điểm này, nền kinh tế phải gánh chịu những hệ quả mang tính tổng hợp.

GS.TS Trần Ngọc Thơ: “Không một nền kinh tế nào mà dự trữ quốc gia có thể chia năm sẻ bảy…”- Ảnh: Lê Toàn

Giải pháp hiện nay, theo ông Du, cần ưu tiên chống lạm phát, hạn chế dòng vốn đầu tư gián tiếp, nâng giá tiền đồng Việt Nam để hàng hóa vào Việt Nam nhiều hơn. Ngoài ra, tuyệt đối không thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ vì sẽ phát sinh các khoản vay trá hình khi ai cũng có thể sở hữu đô la Mỹ. 

Ông Thơ lại cho rằng phải bình tĩnh nhìn nhận dòng vốn nước ngoài. Thay vì thắt chặt, Nhà nước cần thiết lập một hành lang pháp lý để tiếp nhận đầu tư hợp lý. Vấn đề của chúng ta hiện nay là Nhà nước không tạo điểm tựa cho các nhà đầu tư, các nhà hoạch định chính sách để có thể thực hiện đồng bộ. Ông Thơ khẳng định, chúng ta không chỉ cần giải pháp mà còn rất cần ý chí để thực hiện các chính sách phù hợp.

Góp ý cho chính sách điều hành vĩ mô, ông Châu đề xuất các cơ quan quản lý nhà nước cần áp dụng linh hoạt việc siết chặt tín dụng ở những lĩnh vực không khuyến khích đầu tư nhưng bù lại, nên có chính sách hỗ trợ đối với những lĩnh vực khuyến khích đầu tư, cụ thể thông qua việc giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng nguyên liệu, vật liệu cơ bản.

Về vấn đề nhập siêu, ông Quang nhận định nên phân biệt rõ 70% tỷ lệ nhập khẩu hiện nay là nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và thiết bị công nghệ. Do đó, bất cứ chính sách nào về hạn chế nhập khẩu cũng sẽ tiếp tục gây ra sự khan hiếm về nguyên liệu, vật liệu và kéo theo tăng giá, từ đó tiếp tục góp phần đẩy giá đầu vào sản xuất tăng. Theo ông, nên sử dụng nguồn ngoại tệ dư thừa cho việc nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng.

Ý kiến của nhiều chuyên gia là ngoài những biện pháp truyền thống, nên kiềm chế chi tiêu, đặc biệt là Nhà nước cần có biện pháp cụ thể về chi tiêu công. Có thể thấy đầu tư dàn trải và phí phạm là một trong những yếu tố dẫn đến lạm phát, do đó cần giảm thiểu đầu tư công. 

NGỌC THU – YẾN DUNG  

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới