Thứ Ba, 25/06/2024, 18:43
28.9 C
Ho Chi Minh City

Bài 4 – phần 2: Ai thèm đọc báo cáo tài chính làm gì?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Bài 4 – phần 2: Ai thèm đọc báo cáo tài chính làm gì?

(TBKTSG Online) – Để khỏi lập lại bảng cân đối kế toán ngày càng dài của chúng ta, xin lấy ngẫu nhiên một bảng cân đối kế toán của một công ty Việt Nam đang niêm yết trên thị trường chứng khoán, làm đơn giản lại để chúng ta cùng nghiên cứu.

 

 

Bảng cân đối kế toán – Công ty XYZ

Quý IV-2005

TÀI SẢN

SỐ ĐẦU NĂM      

SỐ CUỐI KỲ

A – TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN 59 691 650 059 61 646 084 095
I – Tiền 4 633 376 528 12 861 374 139
II – Các khoản phải thu 14 541 879 603 15 149 145 834
III – Hàng tồn kho 39 613 180 390 32 981 364 089
IV – Tài sản lưu động khác 903 213 538 654 200 033
B – TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN 25 228 120 707 20 498 827 755
I – Tài sản cố định 21 298 541 712 16 865 242 462
1. Tài sản cố định hữu hình    
– Nguyên giá 61 316 058 440 61 990 359 411
– Giá trị hao mòn lũy kế 40 017 516 728 45 125 116 949
2. Tài sản cố định vô hình    
– Nguyên giá    
– Giá trị hao mòn lũy kế    
II – Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 498 064 923 498 064 923
III- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 58 633 661 204 462 992
IV – Chi phí đầu tư thị trường    
V – Chi phí trả trước dài hạn 3 372 880 411 2 931 057 378
TỔNG CỘNG TÀI SẢN 84 919 770 766 82 144 911 850  
NGUỒN VỐN SỐ ĐẦU NĂM SỐ CUỐI KỲ
A – NỢ PHẢI TRẢ 41 553 071 091 32 939 851 227
I – Nợ ngắn hạn 27 025 758 682 23 059 627 289
II – Nợ dài hạn 14 161 316 965 9 570 165 424
III – Nợ khác 365 995 444 310 058 514
B – NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 43 366 699 675 49 205 060 623
I – Nguồn vốn – quỹ 43 366 699 675 49 205 060 623
1 – Nguồn vốn kinh doanh 40 852 187 350 40 852 187 350
– Vốn đầu tư của Chủ sở hữu ( Vốn Điều lệ ) 35 000 000 000 35 000 000 000       
Trong đó: Cổ phiếu quỹ 1 200 000 1 200 000
– Thặng dư vốn cổ phần 5 852 187 350 5 852 187 350
2 – Chênh lệch đánh giá lại tài sản    
3 – Chênh lệch tỷ giá – 1 994 257 659 – 1 029 195 070
4 – Quỹ phát triển kinh doanh 753 194 254 1 085 536 743
5 – Quỹ dự trữ 1 099 003 341 1 285 400 052
6 – Lãi chưa phân phối 2 748 105 461 7 274 302 251
7 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi – 91 533 072 – 263 170 703
8 – Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản    
TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 84 919 770 766 82 144 911 850  

Các mục cần tìm hiểu

1. Tiền: Tiền ở đây không chỉ là tiền mặt trong két hay trong tài khoản ngân hàng. Nó còn là các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao, tức là có thể chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng, như trái phiếu Chính phủ. Đây là hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn mà các công ty trong nước hầu như bỏ qua; hay nếu có cứ hiểu theo nghĩa đầu tư tài chính dài hạn bằng cách mua cổ phiếu của công ty khác.

Giả thử một công ty có trong tài khoản ngân hàng 1 tỷ đồng mà họ biết chắc phải một tháng nữa mới cần đến. Gởi ngân hàng lãi suất thấp, tại sao không đi mua trái phiếu Chính phủ, tháng sau cần tiền thì bán ra. Chính vì hoạt động này mà trên thị trường chứng khoán các nước khác, mua bán trái phiếu lúc nào cũng nhộn nhịp và có khối lượng lớn hơn mua bán cổ phiếu nhiều lần.

2. Các khoản phải thu: Mấy tiệm tạp hóa mua hàng về bán lẻ cũng áp dụng hình thức trả gối đầu, huống gì các công ty lớn. Công ty bán hàng thường không thu tiền mặt ngay mà cho trả chậm 30, 60 hay 90 ngày. Đây chính là các khoản phải thu. Sướng nhất trong các loại công ty là các siêu thị, thường khoản phải thu này rất nhỏ vì khách hàng trả tiền mặt. Và một số nơi bán sỉ cũng áp dụng phương thức trả tiền mặt (như Metro Cash & Carry – trả tiền rồi đưa hàng về) nên khoản này cũng rất nhỏ.

Chúng ta đã tìm hiểu về giá trị thời gian của tiền bạc cho nên đã biết khoản thu ngay sẽ có giá trị cao hơn khoản phải thu trong 3 tháng nữa là bao nhiêu. Chẳng lạ gì Metro có thể giảm giá để cạnh tranh với những nơi bán cho gối đầu.

3. Hàng tồn kho: Đây là một cụm từ rất dễ gây hiểu nhầm, không biết vì sao lại được dùng phổ biến. Xin đề nghị cụm từ thay thế “hàng lưu kho”, dù chưa chính xác lắm nhưng cũng đỡ gây hiểu nhầm. Hàng lưu kho là gồm cả nguyên vật liệu để sản xuất, hàng đang sản xuất dang dở và hàng đã hoàn chỉnh sẵn sàng bày bán cho người tiêu dùng. Dùng “hàng tồn kho” nghe như nói đến loại hàng không bán được, đang chờ thanh lý! Dĩ nhiên hàng lưu kho càng lớn thì càng tốn kém nhưng ít quá cũng dễ dẫn đến tình trạng không đủ hàng để bán. Duy trì hàng lưu kho ở mức tối ưu là một nghệ thuật, như khái niệm “đúng số lượng đúng lúc đúng nơi” (just-in-time) của Toyota.

Hàng lưu kho phải được hạch toán theo giá mua hay giá thị trường, tùy giá nào thấp hơn. Ví dụ, một công ty máy tính mua linh kiện máy tính về lắp ráp để bán; giá linh kiện giảm nhanh thì sổ sách phải ghi theo giá đã giảm. Ngược lại, công ty làm vàng miếng, mua vàng nguyên liệu giá thấp nay giá vàng tăng vọt thì phải ghi sổ sách theo giá nguyên liệu khi mua.

4. Tài sản ngắn hạn khác: Bảng cân đối kế toán trên không ghi nhưng nhiều bảng cân đối kế toán khác có thể ghi cụ thể các khoản như “Chi phí đã trả”. Ví dụ công ty này mua bảo hiểm và đã trả hết bảo phí cho nguyên năm, hay ký hợp đồng quảng cáo và đã trả hết thì khoản đã trả này ghi vào mục “Chi phí đã trả”.

5. Tài sản cố định vô hình: Thêm một khái niệm bị hiểu nhầm khá phổ biến. Nhiều người cứ tưởng giá trị thương hiệu của công ty cứ tính cho cao vào và ghi ở mục này. Làm gì có chuyện đó. Bình thường, mục tài sản vô hình chỉ ghi các món như tiền mua bản quyền công nghiệp, tiền trả để khai thác một dịch vụ nào đó như nhượng quyền thương mại… Ví dụ một công ty phải trả một khoản tiền lớn để được chuyển giao công nghệ sản xuất một mặt hàng nào đó, đây chính là tài sản vô hình của công ty này.

Giá trị thương hiệu, uy tín công ty hay mạng lưới khách hàng… chỉ tính trong trường hợp sau. Công ty A mua lại công ty B. Giá trị sổ sách của công ty B chỉ là 100 tỷ đồng nhưng giá mà A phải trả để mua B lên đến 150 tỷ đồng. Khoản chênh lệch ấy chính là giá trị vô hình của công ty B như thương hiệu, uy tín… Trong trường hợp này, bảng cân đối kế toán của công ty A sẽ bao gồm các mục của công ty B, trừ 50 tỷ chênh lệch, sẽ được ghi vào mục “Tài sản vô hình” của mình.

6. Hao mòn lũy kế: Trong mục tài sản hữu hình, thường có chuyện trừ đi phần hao mòn lũy kế, chính là quá trình khấu hao tài sản qua sử dụng. Ví dụ, công ty mua một chiếc xe tải nguyên giá là 100 triệu đồng, dự tính sử dụng nó trong vòng 5 năm là phải mua xe khác để thay thế. Như vậy hằng năm công ty phải khấu hao 20 triệu đồng cho chiếc xe này. Vì thế, bảng cân đối kế toán lập ở năm thứ hai sau khi mua xe sẽ ghi: Xe tải (nguyên giá): 100 triệu đồng; Hao mòn lũy kế: (40 triệu đồng); Trị giá còn lại: 60 triệu đồng.

Nguyên tắc kế toán yêu cầu sổ sách ghi theo giá mua nguyên thủy cho nên tài sản ghi trong sổ sách không bao giờ khớp với giá trị tài sản thực tế. Có cái giảm rất nhiều; nhưng cũng có cái giá trị tăng lên cả trăm lần như đất đai chẳng hạn.

7. Nợ: Dùng từ “nợ” cũng gây cảm giác sai lạc về khoản này (trong khi tiếng Anh dùng từ “Liabilities” dễ nghe hơn). Nhiều người thích dùng từ “Tiêu sản” để đối lại với “Tích sản” cũng là một cách nên tham khảo. Đã có lần một phóng viên trẻ đọc bảng cân đối kế toán của một công ty, thấy toàn bộ tài sản chỉ có 100 tỷ đồng mà khoản nợ lên đến 80 tỷ đồng bèn phán công ty này làm bao nhiêu cũng không đủ trả nợ (!). Tỷ lệ giữa nợ và vốn bao nhiêu là tối ưu có thể là chủ đề của cả một cuốn sách dày cộp. Thế nhưng các công ty của chúng ta bây giờ cứ thích phát hành thêm cổ phiếu, tăng vốn chủ sở hữu mà chẳng thèm quan tâm đến tỷ lệ này.

Người ta thường phân biệt khoản nợ nào phải trả dưới 12 tháng thì xếp vào “Nợ ngắn hạn”, trên 12 gọi là “Nợ dài hạn”. Ở đây cũng có các khoản như “Các khoản phải trả” (mua gối đầu, mua trả chậm), “Chi phí phải trả” (lương, phí, lãi…).

8. Nguồn vốn chủ sở hữu: Trong phần tài sản vô hình nói trên, có thể có người thắc mắc: vậy các công ty cổ phần hóa, khi xác định giá trị công ty có tính phần giá trị thương hiệu, uy tín thương mại và các khoản khác, nếu không ghi vào mục tài sản vô hình thì ghi vào đâu. Các công ty này khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, tiền thu vào thường lớn hơn giá trị sổ sách, phần chênh lệch này sẽ được ghi vào mục “Thặng dư vốn cổ phần”.

CẨM NHUNG 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới