Chủ Nhật, 23/06/2024, 09:39
26.7 C
Ho Chi Minh City

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để bảo vệ quyền con người

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để bảo vệ quyền con người

Tư Giang

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để bảo vệ quyền con người
Thực hành nguyên tắc suy đoán vô tội để bảo vệ quyền công dân. Ảnh TH

(TBKTSG Online) – Nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm đảm bảo quyền con người đã lần đầu tiên được ghi trong bản Hiến pháp 2013, song vẫn còn thiếu nhiều thiết chế khác để đảm bảo điều này được thực hiện đầy đủ trong thực tế.

Nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc suy đoán vô tội đối với người bị buộc tội hình sự đã được hiến định đầy đủ lần đầu tiên ở Việt Nam trong bản Hiến pháp năm 2013 vừa được thông qua nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Đây là khẳng định của Giáo sư Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, Chủ tịch Hội đồng Viện chính sách công và pháp luật, tại hội thảo khoa học “Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013” do Viện Nghiên cứu lập pháp và Viện Chính sách công và pháp luật tổ chức hôm nay ngày 6-5 tại Hà Nội.

Khoản 1, Điều 31 của bản Hiến pháp năm 2013 nêu, “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,” giáo sư Úc cho rằng, Việt Nam đã theo nguyên tắc kinh điển đảm bảo “phẩm giá của văn minh nhân loại” của các văn kiện quốc tế là bị can, bị cáo phải được coi là vô tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo đó chưa được chứng minh theo một trình tự do pháp luật quy định và được xác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Nguyên tắc này đã được ghi trong nhiều văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.

Giáo sư Úc nhận xét, Hiến pháp đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho công dân trong cuộc sống và hoạt động của họ. Yêu cầu đặt ra trong nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966, theo đó, mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” (Điều 14.2 Công ước).

Bên cạnh đó, nội dung này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế nhưng nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện. Công ước nói trên của Liên hợp quốc khẳng định: “Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định” (Điều 9.1 Công ước).

Còn nhiều trở ngại trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân

TS Vũ Công Giao, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội, Viện Chính sách công và Pháp luật, lại cho rằng còn rất nhiều thách thức trong việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân ngay trong bản Hiến pháp.

Ông phân tích, trở ngại đầu tiên trong vấn đề này là Hiến pháp 2013 vẫn không quy định hiệu lực trực tiếp của các quyền hiến định. Điều này khiến cho nhiều quyền quan trọng, đặc biệt là các quyền dân sự, chính trị như tự do lập hội, hội họp, biểu tình, quyền bỏ phiếu trong các cuộc trưng cầu dân ý…sẽ phải đợi Quốc hội ban hành luật để cụ thể hóa, và có thể phải đợi cả Chính phủ ban hành Nghị định để hướng dẫn thi hành, thì mới có thể thực hiện được.

Trở ngại thứ hai là chưa có cơ chế pháp lý rõ ràng và hiệu quả cho việc bảo vệ các quyền hiến định. Việc Hội đồng Hiến pháp không được thành lập đã triệt tiêu khả năng ngăn ngừa, xử lý hiệu quả những văn bản và quyết định vi phạm các quyền hiến định (vi hiến) của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Tương tự, việc đề xuất cơ quan nhân quyền quốc gia bị bỏ qua đã triệt tiêu cơ hội của người dân được một cơ quan hiến định độc lập chuyên trách về nhân quyền bênh vực, bảo vệ. Hiện tại, với cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo được thiết kế theo kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi” (khiếu nại, tố cáo do chính cơ quan bị khiếu nại, tố cáo, hoặc cơ quan cấp trên của cơ quan đó, giải quyết) và hệ thống tư pháp thiếu độc lập, khả năng những vi phạm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là các quyền dân sự, chính trị nhạy cảm, được xử lý khách quan, công bằng và được bồi thường thích đáng, là rất khó khăn.

Trở ngại thứ ba liên quan đến quy định bất hợp lý về việc vận dụng yếu tố bảo vệ an ninh quốc gia để hạn chế quyền (Điều 14) và quy định cấm quá rộng, mơ hồ về lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15). Những quy định này trong thực tế đã, đang và khả năng sẽ còn bị lạm dụng để vi phạm các quyền hiến định. Trong bối cảnh hệ thống tư pháp vẫn chưa thực sự là các cơ quan bảo vệ công lý, lại thiếu vắng các thiết chế bảo vệ nhân quyền độc lập là Hội đồng Hiến pháp và cơ quan nhân quyền quốc gia, thì khả năng ngăn chặn những hành động lạm dụng đã nêu là rất khó khăn.

Bên cạnh đó, ông Giao cho rằng, còn thiếu một loạt các luật nền tảng cho chế độ dân chủ bao gồm Luật về đảng chính trị, Luật về hội, Luật biểu tình, Luật trưng cầu dân ý, Luật tiếp cận thông tin.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới